Nhạc số trước ngưỡng cửa năm 2008

(Bài đăng trên tạp chí TG@ – Số Tết 2008)

Nhạc số lên ngôi 

Năm 1997, ngành công nghiệp âm nhạc thế giới vốn thuộc về bộ tứ Big-Four (bao gồm 4 hãng ghi âm: Sony-BMG, Warner, EMI và Universal) đạt doanh thu 45 tỉ USD, một con số chưa từng có trong lịch sử. Tuy nhiên, kể từ khi hai phần mềm chia sẻ P2P (mạng ngang hàng) Napster và Kazaa ra mắt vào năm 1999 và 2004, các hãng đĩa này đã bắt đầu chứng kiến thời hoàng kim của họ dần xuống dốc. Từ năm 2000 đến nay, doanh thu âm nhạc toàn cầu đã giảm xuống còn ở mức 25-30 tỉ USD/năm. Với tốc độ suy giảm này, đến năm 2009, doanh số âm nhạc toàn cầu sẽ chỉ còn từ 21-23 tỉ USD.

Nhạc số của năm 2007 không giống như thời kỳ nhạc số của năm 2000, không chỉ download nhạc từ Napster và nghe trên máy tính cá nhân. Nhạc số của năm 2007 chính là thông qua định dạng số đưa âm nhạc đến khắp mọi nơi. Sự bùng nổ của thế hệ máy nghe nhạc iPod và cửa hàng nhạc số trực tuyến của Apple, cùng các mô hình tương tự đã đưa nhạc số đạt mức doanh thu tăng trưởng 2 tỉ USD trong năm 2006. Năm 2007, con số này đã là 3 tỉ. Tổng số bài hát được tải từ internet đạt ngưỡng 5 triệu với hơn 500 cửa hàng nhạc số trên toàn thế giới. Từ thành công này, các mạng xã hội đã chuyển dần sang hình thức kinh doanh âm nhạc mới dựa trên quảng cáo trực tuyến.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ này đang có chiều hướng chậm dần. Trong hoàn cảnh, doanh số CD cũng đang sụt giảm mạnh. Tuy vậy, năm 2007 là thời điểm sống còn đối với bộ tứ Big-Four: Chuyển đổi phần lớn mô hình kinh doanh từ CD sang nhạc số ngay từ thời điểm này sẽ còn có thể cứu vãn trước khi quá muộn.Thực tế cho thấy, các hãng đĩa lớn đã có sự thay đổi đáng kể từ việc số hóa dần dần toàn bộ ấn phẩm âm nhạc, đa dạng hóa định dạng âm nhạc và kênh phân phối, bỏ qua DRM, và triển khai những mô hình kinh doanh nhạc số không thu phí người nghe.

Sự sụp đổ của bức tường DRM 
Digital Rights Management (gọi tắt là DRM, tức quản lý quyền kỹ thuật số) được xem là một công cụ đắc lực (bên cạnh luật pháp) của các hãng ghi âm nhằm đối phó với tình trạng sao chép bất hợp pháp nội dung số lưu truyền trên mạng. Tuy nhiên, những công nghệ như Janus của Microsoft, FairPlay của Apple cũng không thể nào kìm hãm được tình trạng sao chép nhạc bất hợp pháp. Trong bài viết trình bày suy nghĩ của mình về nhạc số, Steve Jobs – chủ tịch hãng Apple – đã đưa ra một ví dụ minh chứng, đó là trường hợp của chính Apple: Hãng này đã bán ra gần 100 triệu iPod và 2 tỉ bài hát từ iTunes. Nghĩa là: chỉ có khoảng 22 bài hát được bảo vệ bằng DRM trong một chiếc iPod có sức chứa từ 1000 bản nhạc trở lên. Điều này lại mâu thuẫn với việc hàng năm các hãng ghi âm phát hành hàng trăm triệu đĩa nhạc mà phần lớn có thể được sao chép vô tư. Chính sự không hiệu quả và mâu thuẫn này đã khiến cho bức tường DRM bị sụp đổ.

Ngay cả giải pháp tạo ra một hệ thống DRM “mở” cũng không được xem là khả thi. Nhiều hệ thống DRM mã nguồn mở được phát triển trong thời gian vừa qua cũng chẳng đi đến đâu.

Giải pháp tốt nhất đó là loại bỏ hẳn DRM ra khỏi nhạc số. Người nghe nhạc sẽ là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng này. Các công ty bán nhạc và sản xuất thiết bị nghe nhạc sẽ không cần phải đầu tư tốn kém cho việc phát triển và duy trì DRM. Vấn đề là liệu các hãng ghi âm có sẵn sàng chịu cấp phép kinh doanh kho nhạc khổng lồ của họ cho những công ty như Apple hay không?

Trong năm 2007, hai sự kiện lớn đánh dấu hồi kết của DRM trong nhạc số chính là sự ra mắt cửa hàng nhạc số không DRM của Amazon ở dạng MP3. Sự kiện này đã thu hút hơn 12.000 hãng ghi âm tự do ký kết hợp tác bán nhạc của mình trên cửa hàng nhạc của Amazon. Tiếp đó, EMI đưa toàn bộ nhạc của hãng lên iTunes của Apple ở dạng MP3 và AAC không mã hóa. Mặc dù giá bán mỗi bản nhạc không DRM có cao hơn ($1.99 thay vì $0.99) nhưng người nghe nhạc sẽ toàn quyền sử dụng và chia sẻ các file nhạc cũng như tạo ra một thị trường nhạc số thực sự tự do có khả năng tương hợp với bất kỳ hệ thống hay phần cứng nào.

Web 2.0 & di động: thị trường tiềm năng của nhạc số 
Sự bùng nổ của Web 2.0 với sự ra đời của hàng loạt mạng xã hội có tình chất toàn cầu như MySpace, Cyworld, dịch vụ chia sẻ video Youtube.com, cho đến những mạng xã hội chuyên về âm nhạc như Last.fm, iLike.com đã tạo ra một thị trường mới mẻ cho nhạc số phát triển.
Đối với music-video, mặc dù chỉ chiếm 3% trong tổng doanh thu từ kinh doanh từ download nội dung số, nhưng lại là một nguồn nội dung có ý nghĩa quan trọng với các website mạng xã hội và chia sẻ video. Yahoo! và MTV thông qua music-video để xây dựng những hình thức quảng cáo trực tuyến mới. Trong khi đó, Youtube cũng sớm liên kết với Warner để quảng bá các music-video của hãng này. Những nghệ sĩ cũng chọn những website như Youtube hay MySpace để đưa âm nhạc của mình tiếp cận với công chúng.

Một hình thức khác, đó là thông qua những mạng chuyên về nhạc như Last.fm, người nghe nhạc đã tìm thấy một cách tiện lợi hơn để khám phá những bài hát mới dựa trên sở thích và thói quen âm nhạc của mình. Còn Imeem thì chọn mô hình dựa trên quảng cáo để thành viên của mạng này có thể upload và nghe nhạc miễn phí. Mô hình kinh doanh dựa vào quảng cáo cũng đã được một số cửa hàng nhạc số như Napster hay Rhapsody triển khai dưới hình thức nghe nhạc hoàn toàn miễn phí, và chỉ tính phí khi người nghe tải về. Năm 2007 cũng chứng kiến sự hồi phục của các website phát nhạc trực tuyến (web-radio) sau vụ kiện bản quyền với RIAA.

Các hãng ghi âm lớn còn tạo lập những mạng xã hội riêng biệt dành cho người hâm mộ, cũng như các dịch vụ nghe nhạc riêng, điển hình như MusicBox của Sony-BMG. Kể từ đây, các hãng ghi âm lớn đã bắt đầu chuyển từ hình thức gián tiếp (thông qua hệ thống bán lẻ) sang tiếp cận hoàn toàn trực tiếp với người nghe nhạc.

Châu Á: Tương lai của nhạc số 
Trong khi ở châu Âu và châu Mỹ, nhạc số vẫn còn gặp phải những rào cản về pháp lý và kỹ thuật thì tại châu Á, khu vực tưởng chừng im ắng nhưng lại có một thị trường nhạc số rộng lớn, chiếm 25% doanh số nội dung số toàn cầu. Nhờ tốc độ phát triển và ứng dụng công nghệ 3G và hạ tầng kỹ thuật băng thông rộng, Hàn Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia đầu tư đưa tính năng tải nhạc từ di động từ rất sớm và thị trường giải trí vẫn chưa có dấu hiệu bão hòa. Tại Nhật, doanh thu nhạc số khoảng 22 triệu USD, chủ yếu đến từ mua nhạc bằng di động. Tại Hàn Quốc, dịch vụ nhạc số MelOn có gần 5 triệu người sử dụng, trở thành dịch vụ thu nhiều lợi nhuận nhất của SK Telecom. Nhạc số chiến thắng CD với 57% thị phần. Người Hàn Quốc có xu hướng ưa chuộng nghe nhạc trực tuyến (streaming) hơn là download nhạc về máy tính, nhờ vào tốc độ internet cực cao và mật độ người dùng internet dày đặc. Đó là chưa kể đến Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia sẽ là những thị trường lớn của nhạc số châu Á trong tương lai.

Tại Trung Quốc, một số dịch vụ trực tuyến như 9sky, QQ hay Sina đã đưa vào mô hình nghe nhạc trực tuyến miễn phí dựa trên quảng cáo và đã có những thành công ban đầu. Riêng Baidu, sau khi thắng kiện trong vụ kiện bản quyền với các công ty âm nhạc Trung Quốc, cũng đã xúc tiến xây dựng một dịch vụ nghe nhạc miễn phí tương tự với chất lượng cao. Điều đó cho thấy, tôn trọng bản quyền âm nhạc là cách tốt nhất để bảo đảm lợi ích lâu dài cho cả ba bên: người nghe nhạc, nhà cung cấp dịch vụ và công ty âm nhạc.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s