Spotify và 15 năm trải nghiệm với nhạc số


  1. Spotify thay đổi hoàn toàn trải nghiệm sử dụng nhạc số của tôi. Khi người bạn gửi cho tôi một bài hát bằng ứng dụng Spotify trên iPhone. Bài hát cũng xuất hiện ngay lập tức trên iPhone của tôi. Khi đĩa nhạc mới của Brandy vừa ra mắt, chỉ cần một cú touch vào chức năng “Available Offline”, chỉ sau phiên vệ sinh cá nhân buổi sáng, tôi đã có cả một album 320kbps để nghe trên bus. Sức hấp dẫn của Spotify không chỉ đơn giản là bạn có thể nghe hàng triệu ca khúc miễn phí, mà còn ở hai khía cạnh lớn hơn: Thứ nhất, sự thay đổi nhận thức của người nghe nhạc đối với quyền sử dụng nội dung số. Thứ hai, hành vi chúng ta chia sẻ âm nhạc. Spotify khiến tôi nhận ra trải nghiệm sử dụng nhạc số của bản thân đã thay đổi lớn lao như thế nào trong vòng 15 năm qua.
  2. Trước 1998, chia sẻ bài hát mới thường là việc tôi phải viết thư (hoặc gọi điện thoại) cho đài truyền hình hoặc đài phát thanh, và …chờ đợi bài hát yêu thích được phát sóng. Sự chờ đợi có khi một tuần, vài tháng, cũng có khi là chẳng bao giờ. Thế hệ tôi thời bấy giờ gắn liền với những Quick & Snow, hay MTV Hitlist. 
  3. Năm 1998, lần đầu tiên tiếp xúc Internet, bài hát đầu tiên tôi download là bản “Angel of Mine” của Monica qua đường truyền dial-up. Chỉ là một đoạn sample 30 giây, nhưng mất đến 5 phút để tải về một file chỉ 500KB. Đầu năm 1999, khi MP3 bắt đầu trở nên phổ biến, bài hát MP3 đầu tiên tôi download là bản “Baby One More Time” của Britney Spears. Một file MP3 như vậy thường mất từ 15-30 phút để download. Vì vậy, tôi đành tìm các định dạng streaming (RealAudio/WMA), mỗi bài chỉ từ 700KB, chất lượng âm thanh chỉ ngang tầm radio. Hầu hết nhạc trong máy tính tôi thời đó chỉ ở dạng RM/WMA, thà có còn hơn không. Năm 2001, ADSL phổ biến. Các mạng P2P như Napster, Kazaa, và Limewire làm cho việc tìm nhạc MP3 trở nên dễ dàng, và nhanh chóng hơn. Trên máy tính, tôi cài hầu hết những P2P softwares phổ biến nhất thời đó. 
  4. Sự phổ biến internet tốc độ cao cũng kéo theo sự ra đời của các chuẩn music streaming chất lượng cao hơn trước đây. Dịch vụ online music radio trở nên phổ biến như MTV, MSN, Yahoo!, hay AOL. Năm 2003, SQL injection vốn là trò khá phổ biến trong giới hackers (ngày nay trò này đã trở nên lỗi thời và trẻ con). Lợi dụng trò này và lổ hỗng bảo mật của một số Windows servers thời đó, tôi hacked vào các third-party sites sử dụng 4 dịch vụ radio nói trên. Bỗng nhiên, tôi nắm trong tay hàng triệu bài hát. Làm sao để chia sẻ những kho nhạc khổng lồ này? 
  5. Rõ ràng, cho dù tốc độ internet có nhanh hơn, nhưng vẫn không có một cách thức mới hơn để chia sẻ âm nhạc. Đó là chưa kể rào cản về trình độ kỹ thuật, và mức độ tiếp cận Internet. Một điều hiển nhiên khác là hành vi chia sẻ bất hợp pháp nội dung có bản quyền. 
  6. Năm 2003, ý tưởng về Mukebox (một website nghe nhạc trực tuyến) nảy sinh khi một người anh chia sẻ với tôi ý tưởng nghe và chia sẻ nhạc giữa các thành viên trong một forum. Nếu bạn từng quan sát thị trường Internet vào thời điểm, sẽ dễ nhận thấy đây là thời kỳ thịnh vượng của các forum. Phần đông giới trẻ truy cập internet tại các quán net. Rõ ràng, ý tưởng nghe nhạc trực tuyến rất khả thi, và một số trang mạng tương tự đã bắt đầu. Đó là lí do tôi phát triển Mukebox, nhưng không phải là một website nghe nhạc trực tuyến, mà là một module nghe/chia sẻ âm nhạc có thể tích hợp với hầu hết các phần mềm forum phổ biển thời đó như PhpBB, Invisionboard & vBulletin. Với một số lượng đông đảo các forum lớn nhỏ như vậy, tích hợp Mukebox sẽ có hiệu ứng chia sẻ lan toả rộng hơn nhiều lần. Quan trọng hơn nữa, nó không thuộc về sở hữu của một bên độc nhất (như quan hệ FPT – Nhacso), mà là hoàn toàn tự do, bất kỳ webmasters nào cũng có thể làm được. Đó là mục tiêu lớn hơn mà tôi đặt vào Mukebox.
  7. Năm 2005, tôi bắt đầu tích hợp IRC, một giao thức chatting phổ biến lúc đó, và online radio vào Mukebox. Một chức năng quan trọng khác là Mua Nhạc. Rõ ràng, không thể nào tiếp tục việc chia sẻ nhạc bất hợp pháp. Nhưng với với hàng loạt websites lớn nhỏ cho phép download nhạc tự do, mô hình mua nhạc là hầu như không khả thi. Cuối năm đó, tôi quyết định ngừng phát triển Mukebox để tập trung vào những mục tiêu khác. Phiên bản cuối cùng chưa bao giờ ra mắt. Đó cũng là lúc người ta bắt đầu chán cuộc vui với forums, và chỉ tập trung vào những forum lớn và mạng xã hội. 
  8. Cuối năm 2007, mối quan tâm của tôi về nhạc số được đánh thức trở lại khi tôi được một người bạn gợi ý viết một bài báo tổng hợp về giới nhạc số trước ngưỡng cửa năm 2008 (http://bit.ly/VhMRle ). Đây cũng là dịp tôi đọc được chia sẻ của Steve Jobs về nhạc số (http://www.apple.com/fr/hotnews/thoughtsonmusic/ ). Steve Jobs nhấn mạnh sự kém hiệu quả của các mô hình DRM. Thực tế, những mô hình DRMs chỉ làm giảm quyền tự do của người nghe nhạc, chúng không giải quyết được việc tải nhạc bất hợp pháp. Đó là lí do tôi bắt đầu ngưỡng mộ Steve, không phải vì ông là nhà tư tưởng trong thế giới công nghệ, mà vì ông là nhà tư tưởng trong ngành kinh doanh âm nhạc hiện đại. Thực ra, từ góc nhìn của chính tôi, sự sụp đổ của mô hình DRM chỉ đơn thuần mang lại sự tự do cho người nghe nhạc và sự cạnh tranh tương đối công bằng hơn giữa người bán nhạc số trong môi trường đa thiết bị. Nói cách khác, sự kiện này không dẫn đến sự đột phá. 
  9. Spotify đột phá vì nó mang yếu tố mà tôi gọi là disruption factor. Mô hình Spotify khác hoàn toàn với những gì Rhapsody hay iTunes từng có. Thay vì “selling music”, Spotify đi theo con đường “lending music”. Theo đuổi chiến lược long-tail, Spotify làm cho âm nhạc trở nên hợp túi tiền với số đông dân chúng. Một người bình thường chỉ cần bỏ một số tiền hằng tháng khoảng $9.99 (tương đương mua 1 CD nhạc trong iTunes) là có thể download và nghe hàng triệu bài hát. Cùng với sự phổ biến của broadband, wifi, 4G/LTE, smartphones, Spotify thay đổi cách tôi tải nhạc, nghe nhạc, và tương tác xã hội thông qua âm nhạc chỉ như một chớp mắt. 
  10. Tất nhiên mới mô hình “lending music”, Spotify có những giới hạn nhất định. Cái lớn hơn cả là Spotify thay đổi nhận thức của người nghe nhạc đối với quyền sử dụng nội dung số. Thứ nhất, người nghe nhạc được tự do quyết định mua nhạc dựa trên thông tin đầy đủ nhất về một sản phẩm âm nhạc (được nghe full-length thay vì 30s-sample). Thứ hai, người nghe nhạc hưởng lợi từ variable pricing dựa trên tính linh hoạt về quyền sử dụng nội dung số. Thứ ba, người sở hữu nội dung số không còn đơn thuần kinh doanh nội dung số, mà thực ra họ đang kinh doanh “quyền sử dụng” cho người nghe nhạc. 
  11. Tôi nghĩ rằng đừng quá tập trung vào tính khả thi của một mô hình kinh doanh như Spotify. Nếu quan sát trong một khoảng thời gian đủ dài, ta sẽ thấy điều lớn hơn mà Spotify làm được: Đó là trao cho người nghe quyền lực mà họ xứng đáng phải có. 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s