Author: Albert Do

Con đường đến The Hague của người Philippine

102541374 (1)

Kể từ khi Trung Quốc tuyên bố Đường Chín Đoạn vào năm 1947, quan hệ Bắc Kinh – Manila chưa bao giờ đạt đến mức độ xung đột và căng thẳng như quan hệ Bắc Kinh – Hà Nội. Ngay cả khi vào năm 1996, sự kiện Mischief Reef đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc xung đột quân sự với một nước thành viên ASEAN khác ngoài Việt Nam. Đó là Philippines.

Kể từ năm 1990, Trung Quốc tiến hành gia tăng tranh chấp chủ quyền với các quốc gia Đông Nam Á tại khu vực vùng biển phía nam Trung Hoa, trong suốt hơn 20 năm. Tuy nhiên, Manila không hề bị đe dọa bởi Bắc Kinh, bởi 3 lí do: (1) vai trò đồng minh của Mỹ, (2) vị trí địa chính trị và quan hệ chiến lược với khối Thịnh Vượng Chung, và (3) khởi sắc quan hệ với Nhật Bản kể từ sau Thế chiến 2. Hơn nữa, thời Clinton (1993-2001) là một trong những thời đại vàng trong quan hệ Washington-Manila. Thực tế, Philippines chính là quốc gia chủ động kêu gọi đoàn kết ASEAN để đối phó với chính sách Đường chín đoạn của Trung Quốc. Kết quả từ hành động này là ASEAN-China Code of Conduct on South China Sea (Tuyên bố nguyên tắc ứng xử trên biển Đông) vào cuối năm 2002.

Mục tiêu của Philippines, được thể hiện rõ rệt nhất qua vụ kiện với Trung Quốc trên cơ sở UNCLOS 1982, không phải là giải quyết tranh chấp chủ quyền biển (sovereignty issues), mà là giải quyết tranh chấp về phạm vi và quyền khai thác đại dương và các nguồn tài nguyên liên quan. Manila biết rõ: Với tư cách là thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ của Trung Quốc, giải quyết vấn đề chủ quyền với Bắc Kinh là khả năng khó có thể xảy ra đối với Philippines nói riêng và ASEAN nói chung.

Năm 2001, con đường đến The Hague của người Phi Luật Tân đột ngột bị gián đoạn trong gần 13 năm. Sự kiện ngày 11 tháng 9, về cơ bản, đã thay đổi cục diện thế giới nói chung và mối quan tâm của Hoa Kì. Năm 2001, tại Hoa Kì, cũng đánh dấu sự kiện Bill Clinton rời Nhà Trắng và khởi đầu giai đoạn lãnh đạo kéo dài 8 năm của George W. Bush. Tại Manila, Gloria Macapagal Arroyo, con gái của cựu tổng thống Philippines Diosdado P. Macapagal, nhậm chức Tổng thống nước Cộng hòa Philippines.

Gloria Arroyo, tiến sĩ kinh tế đã từng được đào tạo tại Hoa Kỳ và là bạn học của cựu tổng thống Bill Clinton tại trường đại học  Georgetown ở Washington, kế thừa quan điểm phát triển kinh tế thị trường tự do của cha mình và tư tưởng kinh tế phương Tây. Kể từ đây, chính sách kinh tế của Gloria Arroyo trở thành yếu tố quan trọng góp phần thay đổi quan hệ ngoại giao cũng như đối sách chính trị quốc tế của Manila.

Kinh tế Philippines

Hậu khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Philippines đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng net-FDI thấp (dưới 2%); thuộc nhóm thấp nhất trong ASEAN-6 (so với Singapore, Vietnam, Malaysia, Indonesia & Thailand). FDI lũy kế chỉ bằng 58% so với Việt Nam.

Trong hoàn cảnh đó, thực thi chính sách phát triển kinh tế được ủng hộ bởi IMF & World Bank. Arroyo thực hiện tư hữu hóa một số ngành công nghiệp quan trọng, cắt giảm chi tiêu công, và tăng thuế (đặc biệt là VAT). Thông qua quan hệ với Hoa Kỳ để giảm rào cản xuất khẩu cho hàng hóa Phi Luật Tân trên thị trường thế giới, đặc biệt là EU. Arroyo cũng không muốn một quan hệ ngoại giao với Mỹ mà chỉ có lợi cho người Mỹ. Quan trọng nhất, chính là chính sách thu hút FDI và cải cách sở hữu đất đai (dỡ bỏ giới hạn sở hữu đất của người nước ngoài).

Chính sách kinh tế của Arroyo đã đạt được hai thành tựu quan trọng: (1) Gia tăng FDI, đặc biệt từ Trung Quốc; và (2) GDP đạt mốc 6.9% vào năm 2007. Tuy nhiên, chính sách của Arroyo đã kéo theo những hệ lụy quan trọng: (1) Gia tăng tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng thu nhập; (2) Giá tiêu dùng tăng và gia tăng thất nghiệp; (3) Bất ổn an ninh xã hội do hoạt động khủng bố của Abu Sayyaf và các lực lượng đối lập khác.

Quan hệ với Hoa Kỳ

Quan hệ Manila-Washington trở nên gập ghềnh sau khi Bill Clinton rời Nhà Trắng. Đặc biệt là khi Bush và nguồn lực Hoa Kỳ dần dần tập trung vào Trung Đông từ sau 11/9. Sự thất bại của ASEAN-China Code of Conduct on South China Sea vào năm 2002 là dấu hiện đầu tiên.

Là đồng minh thân cận, Manila ủng hộ chính sách chống khủng bố của Washington. Tuy nhiên, về bản chất, tồn tại một sự bất đồng giữa Arroyo và Bush. Arroyo xem nghèo đói (một vấn đề của xã hội Philippines) là nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố. Điều này trái ngược với quan điểm của Bush.

Quan hệ Manila-Washington trở nên lạnh nhạt hơn bởi nhiều cáo buộc liên quan đến Arroyo: (1) Tham nhũng; (2) Gian lận bầu cử; bạo lực chính trị; và (3) Sử dụng viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho mục đích phi dân chủ, vi phạm nhân quyền.

Kể từ 2003, thay vì nhấn mạnh quan hệ song phương với Hoa Kỳ, Arroyo hướng về chính sách đa phương. Đối tác quan trọng của Manila, không ai khác chính là Bắc Kinh.

Cơ hội của Bắc Kinh

Quan điểm về chủ quyền của Bắc Kinh trên vùng biển nam Trung Hoa hết sức rõ ràng và không nhân nhượng. Một trở ngại của Bắc Kinh chính là sự đoàn kết của ASEAN. Chính vì vậy, Trung Quốc tránh né đàm phán về biển Đông với ASEAN như là một nhóm. Chiến lược của Trung Quốc là “chia để trị,” thông quan thỏa thuận song phương (thực chất là “các chuyến đi đêm” với từng thành viên ASEAN. Năm 2008, Trung Quốc kí kết Joint Energy Accord (Hợp tác đồng khai khác năng lượng trên biển Đông Trung Hoa) với Nhật Bản. Trong khi Hoa Kỳ phải đối phó với vấn đề Trung Đông, sự kiện này càng tạo thêm sức mạnh đàm phán cho Bắc Kinh trên vùng biển nam Trung Hoa.

Thông qua đầu tư nước ngoài và chính sách ngoại giao, Trung Quốc về cơ bản đã chia tách ASEAN thành hai nhóm. Ngoại trừ nhóm có quyền lợi ít bị ảnh hưởng trên biển Đông, nhóm còn lại bao gồm Malaysia, Vietnam, Philippines và Indonesia.

Xét về địa chính trị, Việt Nam và Philippines là hai chướng ngại vật án ngữ cần phải vượt qua của Bắc Kinh để hiện thực hóa chính sách Đường chín đoạn. Vì vậy, đây là thời cơ vàng cho Trung Quốc để “mua chuộc” Philippines (như sách lược đang thực hiện của Bắc Kinh với Jakarta).

Gloria Arroyo đã thỏa hiệp với Bắc Kinh như thế nào?

Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống, bà Arroyo đã thực hiện khoảng 10 chuyến công du đến Trung Quốc, bắt đầu từ năm 2004. Nhiều nhất trong lịch sử các tổng thống của Phi Luật Tân (vốn chỉ 1-2 chuyến). Năm 2005 đánh dấu “thời đại vàng” trong quan hệ Trung-Phi, với hàng loạt dự án hợp tác song phương quan trọng được kí kết. Cùng với ba cơ quan ngoại giao đặt tại Hong Kong, Macau, và Bắc Kinh, Manila cũng cho xây dựng thêm 4 cơ quan ngoại giao tại Thượng Hải, Trùng Khánh, Quảng Châu và Hạ Môn.

Trung Quốc ký kết thỏa thuận ODA với Phi Luật Tân trị giá 1.27 tỷ USD kéo dài 8 năm từ 2002 đến 2010. Tai tiếng nhất đó là Manila đã ký kết MOU giá trị 4 tỉ USD cho phép ZTE đầu tư vào hạ tầng viễn thông của Phillippines. Một số dự án khác đã bị báo chí Phi Luật Tân phanh phui về tham nhũng, đáng kể nhất là dự án đường sắt Northrail và Cyber-Education.

Đỉnh điểm nhất đó là Gloria Arroyo đã cùng với Trung Quốc phát triển Thỏa thuận Đồng Hợp tác Nghiên cứu Khoa học Địa chấn Hải dương trên một số khu vực vùng biển nam Trung Hoa (A Tripartite Agreement for Joint Marine Scientific Research in Certain Areas in the South China Sea) có hiệu lực vào năm 2005. Mà sau đó, Việt Nam “cũng phải” tham gia thỏa thuận này. Một sự kiện mà người Phi Luật Tân gọi Gloria Arroyo là “kẻ bán nước.”

Tháng 3 năm 2009, Arroyo thông qua Luật 9522 quy định đường cơ sở (baselines) của quần đảo Philippines mà không bao gồm Bãi cạn Scarborough và Kalayaans (Trường Sa), nhưng bãi cạn và các đảo này vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) công nhận. Một số học giả cho rằng luật 9522 làm suy yếu vị thế của Philippines trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển.

Không dừng tại đó, năm 2009, ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống, Gloria Arroyo đã ký với Bắc Kinh về kế hoạch hợp tác chiến lược toàn diện giữa Philippines và Trung Quốc, kéo dài 5 năm.

The Hague

Năm 2009, Barack Obama trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Năm 2010, ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, tuyên bố mối quan tâm của Hoa Kỳ ở biển nam Trung Hoa. Tại vùng biển Đông Trung Hoa, thái độ của chính phủ Shinzo Abe cũng trở nên cứng rắn hơn với Trung Quốc. Cũng trong cùng năm đó, Benigno Aquino III, thành viên của dòng họ Aquino có vai trò quan trọng trong lịch sử Phi Luật Tân và có quan hệ tích cực với người Mỹ, trở thành Tổng thống. Năm 2012, Philippines, một lần nữa, kêu gọi sự đoàn kết của ASEAN trong giải quyết tranh chấp biển Đông. Năm 2013, Philippines khởi kiện Trung Quốc tại Tòa án Trọng tài thường trực theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS), sau tranh chấp bãi cạn Scarborough vào năm 2012.

Con đường đến The Hague của người Phi Luật Tân là minh chứng cho sự phức tạp của quan hệ quyền lực trong thế giới toàn cầu hoá; mà đòi hỏi sự nhạy cảm chính trị và sự kiên trì cao độ. Thiếu vắng các yếu tố chính trị thuận lợi như Philippines, rõ ràng là Việt Nam đang phải khéo léo và kiên nhẫn nhiều lần hơn thế. Một sự kiên nhẫn mà bản chất của nó được thể hiện qua câu nói: “Patience is power. Patience is not an absence of action; rather it is “timing.” It waits on the right time to act, for the right principles and in the right way.” (Fulton J. Sheen)
Tài liệu tham khảo:

UNCTAD – http://unctad.org/en/Pages/Home.aspx

Limits in the Seas – http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf

Philippine president accused of “treason” over Spratlys deal with China – https://www.wsws.org/en/articles/2008/03/phil-m29.html

ZTE-NBN scandal triggers political crisis in the Philippines – https://www.wsws.org/en/articles/2008/03/phil-m07.html

PHL-China relations – http://beijingpe.dfa.gov.ph/phl-china-relations

SC upholds constitutionality of Baselines Law – http://www.philstar.com:8080/headlines/717263/sc-upholds-constitutionality-baselines-law

Japan Protests Chinese Construction in East China Sea – http://thediplomat.com/2016/06/japan-protests-chinese-construction-in-east-china-sea/

South China Sea dispute overshadowing summits – http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2015/10/116_189730.html

Offering to Aid Talks, U.S. Challenges China on Disputed Islands – http://www.nytimes.com/2010/07/24/world/asia/24diplo.html

LEGAL POSTURING AND POWER RELATIONS IN THE SOUTH CHINA SEA – https://amti.csis.org/legal-posturing-and-power-relations-in-the-south-china-sea/

PH to ASEAN: Implement principles on South China Sea – http://www.rappler.com/nation/16341-aquino-calls-for-asean-unity-on-south-china-sea

No Asean unity in sea row with China – http://globalnation.inquirer.net/56974/philippines-says-no-asean-unity-over-china-row

Recent Developments in the South China Sea Dispute – http://www.tandfebooks.com/isbn/9781315818696

The South China Sea Dispute: Navigating Diplomatic and Strategic Tensions – https://bookshop.iseas.edu.sg/publication/2157

China’s Regional Relations: Evolving Foreign Policy Dynamics, by Mark Beeson and Fujian Li. – http://www.journals.uchicago.edu/doi/abs/10.1086/683474?af=R&

State, Globalization and Multilateralism – http://www.springer.com/us/book/9789400728424

Diverse Multilateralism: Four Strategies in China’s Multilateral Diplomacy – http://link.springer.com/article/10.1007/s11366-012-9202-6

 

Group-buying thời "gạo cao lương kém"

Trong bài viết trước đây về mô hình của Groupon (Một vài suy nghĩ về mô hình Groupon), tôi có phân tích & nhận định rằng những mô hình như thế này sẽ phát triển về hoạt động bán hàng dài hạn hơn là chỉ phát huy được tác dụng quảng cáo như hiện nay. Để cho rõ ràng, tôi cố gắng tóm tắt sự phát triển của mô hình này qua 3 giai đoạn như sau:

  1. Online coupons, promotional deals listing
    Đây là giai đoạn khởi đầu, thay thế cho cách thức quảng cáo coupon/deals trên các phương tiện thông tin truyền thống như báo in, tạp chí
    – Vai trò trung gian thương mại: hoàn toàn không tồn tại, chỉ thuần túy là một kênh quảng cáo trực tuyến
    – Trách nhiệm trung gian thương mại: không tồn tại, doanh nghiệp chỉ trả tiền quảng cáo coupons/deals của mình trên các websites này
  2. Group-buying
    Đây là giai đoạn hiện nay, khai thác có hiệu quả hơn việc quảng bá coupon/deals bằng cách bán giá rẻ có điều kiện
    – Vai trò trung gian thương mại: Đã xuất hiện
    – Trách nhiệm trung gian thương mại: Đã xuất hiện nhưng ở mức độ thấp, tạo ra sự gắn kết với doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp hiểu rõ được mô hình kinh doanh kiểu mới
  3. Social-shopping (tạm thời sử dụng từ nay để mô tả)
    Đây là giai đoạn tiếp theo, chuyển dịch từ hoạt động quảng bá sang bán hàng hóa/dịch vụ hướng về giá trị (hơn là về giá rẻ)
    – Vai trò & trách nhiệm trung gian thương mại ở mức độ cao hơn, đặt trọng tâm vào quản lý quan hệ với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng

Ở hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, mà tôi gọi là “gạo cao lương kém” – sự gia tăng chi phí đầu vào & chi phí vốn sẽ dẫn đến tình trạng:

  • Doanh nghiệp khó duy trì liên tục các hoạt động bán hàng giá rẻ dưới áp lực chi phí. Nếu tiếp tục bán hàng giá rẻ, chiết khấu quá cao thì doanh nghiệp không chỉ vừa bị rơi vào áp lực chi phí , mà còn sẽ mất đi phần lợi nhuận tiềm năng từ đối tượng khách hàng hướng về giá trị (hơn là giá rẻ)
  • Doanh nghiệp khó tiếp tục duy trì mức lợi nhuận ổn định. Đây là điểm mấu chốt (bottom-line) bởi vì tăng trưởng lợi nhuận gian nan hơn duy trì lợi nhuận ổn định rất nhiều lần
  • Người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu vào các loại hàng hóa dịch vụ không thiết yếu (du lịch, giải trí, ăn uống bên ngoài, mua sắm…)

Tuy nhiên, cơ hội không phải là không có:
– Đối tượng khách hàng tìm kiếm giá trị (hơn là giá rẻ) vẫn phát triển
– Đối tượng khách hàng rất nhạy cảm về giá sẽ tăng cường tìm kiếm deals/coupons

Dẫu rằng những mô hình group-buying ở giai đoạn 2 có mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng thực tế hoàn toàn không phải như vậy:

  • Negative net working capital (chính xác hơn là Cash Coversion Cycle âm): Doanh nghiệp thu tiền trước của người mua, trả cho nhà cung ứng. Đây là con dao 2 lưỡi nếu không sử dụng đúng cách, nếu bán giá quá rẻ thì doanh nghiệp chỉ đảm bảo chi trả được một phần lãi vay và chi phí đầu vào. Nghĩa là doanh nghiệp cho dù có được Cash Conversion Cycle âm, nhưng doanh thu giảm và chi phí vốn tăng (thời gian thanh toán lãi vay + chi phí đầu vào kéo dài; phải huy động thêm operating capital để đáp ứng khối lượng khách hàng mua dịch vụ với giá quá rẻ) làm cho hiệu quả của Cash Conversion Cycle âm trở nên không đáng kể
  • Chi phí thu hút khách hàng mới thấp: Điều này đúng nếu doanh nghiệp bỏ qua việc so sánh lợi ích này đối với các yếu tố khác (chi phí cơ hội, chi phí vốn, tần suất trở lại của khách hàng…)

Do đó, đã xuất hiện tình trạng Doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết bán hàng giá rẻ, niêm yết bán giá rất thấp nhưng để mua được thì người tiêu dùng phải bỏ thêm chi phí; và một số hình thức biến tướng mập mờ khác. Đối với những mô hình hiện nay như Groupon, siêu giảm giá & quảng cáo chỉ là biện pháp, không phải là mục đích của mô hình. Ngoài ra, các mô hình ở giai đoạn 2 sẽ không tồn tại được lâu, bởi lẽ:

  1. Cạnh tranh gay gắt giữa các group-buying sites sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của mô hình hiện tại
  2. Luôn tồn tại nhu cầu cần phải mở rộng đối tượng phục vụ, nâng cao chất lượng và quan hệ với cả hai phía: doanh nghiệp & người tiêu dùng
  3. Quan trọng nhất: Sự ra đời của các nền tảng và ứng dụng tích hợp cung cấp deals/coupons với các công nghệ location-awareness + mobile payment + QR code (của Google, Facebook, Amazon, và các nhà phát triển độc lập khác) sẽ dẫn đến sự thay thế group-buying sites ở giai đoạn 2, bởi vì doanh nghiệp sẽ tìm thấy một giải pháp quảng bá tương đương với chi phí thấp hơn.

Đối với các trung gian thương mại như group-buying sites hiện nay, việc chuyển dịch ra khỏi giai đoạn 2 sẽ mang lại hai cơ hội quan trọng:
– Đối tượng khách hàng tìm kiếm giá trị không đòi hỏi giá bán quá thấp, mà sẽ đưa ra quyết định dựa trên chất lượng dịch vụ và giá, do đó mang lại phần chiết khấu cao hơn cho group-buying sites
– Cơ hội để xây dựng cộng đồng người tiêu dùng trung thành với website để duy trì cộng đồng người mua cho các doanh nghiệp

Về góc độ cá nhân, đối với Việt Nam, tôi nhận thấy tốc độ ứng dụng mô hình kinh doanh group-buying hiện nay là rất nhanh, có thể nói là không hề thua kém Hàn Quốc và Trung Quốc. Mặc dù các group-buying sites của VN còn mới và nảy sinh nhiều bất cập do chưa nhận thức đầy đủ toàn diện mô hình, nhưng chắc chắn là họ sẽ có những điều chỉnh hợp lý.

——————————————————————————–

* Một bài viết khác đáng đọc: Mua sắm cộng đồng ở Việt Nam: Chưa “gặp thời”

Multi-channel Funnels – Sức mạnh mới của Google Analytics

Hôm 25/8, Google Analytics (GA) ra mắt một chức năng quan trọng trong phiên bản mới, Multi-channel Funnels (MCF). Lý do xem MCF là quan trọng chính là vì:

1) Giúp doanh nghiệp phân tích tác động dây chuyền của các nguồn ảnh hưởng từ các kênh trực tuyến (email, organic search, paid search, social networks…) đến quyết định mua hàng (hoặc một hành động bất kỳ) của người tiêu dùng trên website.

Trước khi có MCF, ta chỉ có thể xác định chính xác kênh trực tuyến cuối cùng dẫn đến quyết định mua hàng của NTD. Còn với MCF, thì chúng ta có thể xem xét cả quá trình mua hàng của NTD từ kênh gây ảnh hưởng đầu tiên (First Interaction), các kênh ảnh hưởng trung gian (Assisted Interaction), và kênh cuối cùng (Last Interaction)  trong một chuỗi dây chuyền mà GA gọi là Conversion Path.

2) Thể hiện rất rõ ứng dụng của Google trong việc khai thác dữ liệu truy cập của con người.

Để dễ hình dung về Multi-channel Funnels, có thể ví dụ một trường hợp:

– Ngày 10/8, từ fan page của Tiki.vn trên Facebook có đăng quảng cáo về cuốn sách Safe Haven của Nicholas Sparks, tôi rất thích và click vào link này, nhưng giá tiền đến 230,000đ mà lại đang kẹt tiền nên tôi không mua.

– Ngày 15/8, tôi quyết định tìm phiên bản ebook của cuốn sách này trên mạng cho đỡ tốn tiền, bằng cách search Google. Tuy nhiên trong kết quả lại có link dẫn đến trang bán sách của Tiki.vn. Tôi thay đổi suy nghĩ và quyết định đợi khi Tiki giảm giá sẽ mua. Tôi liền đăng ký vào mailinglist của Tiki để nhận thông báo.

– Ngày 22/8, tôi check Gmail và nhận được email của Tiki báo rằng Safe Haven được giảm giá 17%, chỉ còn 190.000đ. Tôi quyết định mua ngay, click vào link bán sách từ email và trả tiền.

Như vậy, bằng cách thu thập dữ liệu về hành vi khi tìm thông tin về cuốn sách Safe Haven, Google Analytics có thể xây dựng một chuỗi bao gồm các kênh tác động đến hành vi mua hàng của tôi như sau:

Social Network (First Interaction) -> Organic Search (Assisted Interaction) -> Email (Last Interaction)

Bằng cách phân tích các Conversion Paths trong Google Analytics, Tiki.vn có thể xác định chuỗi tác động nào đóng góp vào doanh thu lớn nhất và yếu tố khác. Một ứng dụng rất quan trọng trong sales & marketing.

Bằng cách nào Google có thể xác định được tôi?

Rất dễ dàng bằng cookie, session, IP, thông tin về máy tính & trình duyệt – Google có thể xác định gần như chính xác.

Tuy nhiên, không phải là không tồn tại nhiễu. Ví dụ: tôi có thể vào web tại nhà bằng laptop sử dụng trình duyệt Chrome; nhưng khi mua hàng tôi lại dùng iPad tại một quán cafe nào đó. Tuy nhiên nếu trong cả hai trường hợp trên, tôi đều đăng nhập vào Google thì Google Analytics có thể xác định chính xác Conversion Path của tôi.

Một ví dụ khác mô tả sức mạnh của Multi-channel Funnels, đó là khi bạn xem quảng cáo của máy tập thể dục trên TV bằng một Internet TV hỗ trợ GoogleTV. Google bằng cách indexing các kênh truyền hình, sẽ xác định được bạn đang xem quảng cáo nào vào thời điểm nào. Khi bạn mua hàng trực tuyến, Google Analytics có thể giúp nhà sản xuất máy tập thể dục đo lường không chỉ ROI mà còn là chuỗi tác động đến quyết định mua hàng của NTD.

Trong bối cảnh tăng trưởng của quảng cáo trực tuyến, và sự phân hoá đa dạng của các thiết bị kỹ thuật số; thách thức phải tối ưu các chiến lược tiếp thị qua môi trường đa kênh sẽ được giải quyết đáng kể bằng MCF.

————-

Introducing Multi-Channel Funnels: discover untapped opportunities in your conversion path

Quản lý không tốt thì thứ gì cũng đắt!

Đọc bài báo “Đã có hàng không giá rẻ trong mạng nội địa Việt Nam?” đăng trên báo điện tử Nhà Báo & Công Luận của nhà báo Nguyễn Đình Ấm, vốn là cựu cơ trưởng của Vietnam Airlines phân tích mà tôi thấy nhiều khúc mắc hơn là thuyết phục.

  • Đã từng bình luận về hàng không giá rẻ (low-cost airline, LCC) trong một bài viết trước đây – AirAsia vào Việt Nam, liệu có nhiều thử thách?; nên chuyện khẳng định Jetstar Pacific (JP) có phải là LCC hay không thì không đáng phải bàn cãi. Kết luận cần phải dựa trên mô hình LCC để đánh giá; chứ không phải dựa trên cảm tính.

JP bước đầu hoạt động năm 2008, thời điểm khó khăn nhất của ngành hàng không thế giới. Thậm chí, ngay cả khi không ở trong hoàn cảnh đó, kinh doanh hàng không cũng có tính rủi ro rất cao – Lời năm trước không đủ bù một phần nhỏ lỗ của năm sau.

Về những lập luận trong bài báo của bác Nguyễn Đình Ấm; thì tôi cũng muốn nói thêm để những ai quan tâm có thể hiểu được khách quan hơn:

  1. Triển khai/cắt giảm đường bay là chuyện bình thường; hãng nào cũng vậy; bay lỗ thì phải cắt giảm. Đầu tư không hợp lý thì phải dừng dự án.
  2. Vé rẻ đi kèm điều kiện mua hạn chế là đúng với mô hình LCC.
  3. Chi phí quảng cáo: rầm rộ thì có đấy; nhưng đã là gì so với VNA?
  4. Về 5 chiếc B737; JP cũng phải đi thuê lại của Jetstar Úc châu. Hãng LCC ban đầu luôn như vậy, phải đi thuê hoặc mua lại máy bay cũ với giá rẻ.
  5. Còn chuyện gom khách quốc tế từ Việt Nam của Jetstar Asia thì cần phải nói rõ 2 điều: Jetstar Pacific và Jetstar Asia tuy cùng một thương hiệu nhưng là 2 pháp nhân hoàn toàn khách nhau. Hiện nay chỉ có Jetstar Asia là mở đường bay quốc tế đến Việt Nam. Không bắt buộc phải có Jetstar Pacific thì Jetstar Asia mới có thể xin phép mở đường bay quốc tế; 2 vấn đề này không liên quan gì đến nhau.

    Hơn nữa, hành khách mua vé đi quốc tế có thể mua nối chuyến nhưng nếu bị missed connection do JP bị delay thì JA cũng không có nghĩa vụ và trách nhiệm với hành khách; phải mua lại vé khác mà bay. Thế thì nói gom khách như kiểu Jetstar thì có lợi gì đây?

  6. Lương bổng: Lương tháng ông Lương Hoài Nam ~ $8,000/ tháng; nghe đâu là trong salary range A320 captain của Vietnam Airlines. Không biết có hãng HK nào trên thế giới mà lương CEO thấp thế không?

    Lương người Úc $25,000 tháng là chuyện không phải bàn cãi, vì đó là mức lương tiêu chuẩn của ngành HK thế giới đối với expats. Lương cơ bản bình quân của top executives của Southwest Airlines là $30,000/tháng; chưa kể benefit & compensation package.

Điều Jetstar Pacific làm được đó chính là giúp cho nhiều người dân VN có điều kiện tiếp cận phương tiện vận tải hàng không nhiều hơn trước đây – đó là lợi ích xã hội không có gì phải bàn cãi. Và đây là điều mà Vietnam Airlines có cố gắng mấy cũng chưa làm được.

Tác giả bài báo lấy khoản lỗ chia cho giá bán lẻ (vé rẻ) là điều mà dân business nói thật chưa dám nghĩ tới; chứ chưa nói đến việc tìm đâu ra chỉ số trên có ý nghĩa gì. Có lẽ điều mà tác giả muốn nói đến cái chữ “đắt” là đề cập đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại JP.

Nếu nói về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại JP, thì cần phải nói đến mấy điều này:

  • Hãng hàng không giá rẻ nhưng tư duy làm việc theo kiểu hàng không truyền thống. Ngoại trừ chuyên gia nước ngoài, mấy ai ở VN thực sự tham gia kinh doanh HK LCC?
  • Vai trò của SCIC. Theo như tôi biết thì: Nếu Jetstar Úc châu rút phần vốn góp ra khỏi JP; thì không biết SCIC đào đâu ra gần 50 triệu đô để trả cho họ. Kinh nghiệm quản lý kinh doanh hàng không của SCIC không có, gần như dựa vào đội ngũ quản trị cũ của Pacific Airlines trước đây.

Đó mới là 2 điều cần phải viết.

(Nguồn ảnh: Báo Doanh Nhân Sài Gòn Điện Tử)