Category: Fun Flyer

Bỏ giá trần vé máy bay nội địa – Cần thận trọng!

Ngày 28/02/2011, báo SGGP Online có đăng bài viết “Bỏ giá trần vé máy bay – Lợi cả đôi đường” và “Có nâng giá vé máy bay vì tỷ giá?” trên VnEconomy. Với tư cách là độc giả thường xuyên theo dõi mảng tin tức về ngành hàng không, tôi rất không đồng tình với cách kết luận vấn đề rất vội vàng qua lối diễn giải hời hợt của người viết. Thế nào được gọi là “lợi cả đôi đường” khi trong bài báo này không hề đề cập đến phản ứng của người tiêu dùng, cũng như hoàn cảnh môi trường kinh tế-xã hội hiện tại?

Bản thân là người đi làm kinh tế, tôi luôn ủng hộ quan điểm thị trường tự do và cạnh tranh bình đẳng. Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại của ngành hàng không hiện nay, việc bỏ giá trần vé nội địa trong thời điểm này cần phải hết sức thận trọng.

1) Vấn đề chi phí

Theo ông TGD của VNA “70% chi phí đầu vào của ngành hàng không phải thanh toán bằng ngoại tệ trong khi doanh thu nội địa bị tính bằng tiền đồng theo giá trần bị khống chế“, đây là một thực tế có tính chất đặc trưng của ngành hàng không thế giới nói chung, chứ không riêng gì VNA. Chi phí cố định lớn, thường chiếm đến 70-80% tổng chi phí, không chỉ tồn tại ở các hãng hàng không truyền thống, mà còn cả với các hãng low-cost.

Vấn đề cần xem xét ở đây không chỉ là tỷ giá biến động mạnh, giá nhiên liệu tăng, hay chi phí đầu vào lớn; mà chính là ở hiệu quả của việc quản lý chi phí hoạt động của hãng. Nếu việc dỡ bỏ giá trần không đi kèm với một chiến lược quản lý chi phí hiệu quả thì kết quả cuối cùng cũng không thể giải quyết được bài toán lợi nhuận của VNA, và người tiêu dùng sẽ phải gánh lấy phần thiệt lớn nhất.

2) Vấn đề quản lý giá vé máy bay của nhà nước

Tác giả viết: “Theo các chuyên gia kinh tế, trên thế giới hiện nay, trong hoạt động kinh doanh vận tải hàng không, không còn nước nào quản lý giá vé máy bay“, đây là cách viết ngụy biện và sai sự thật trắng trợn.

Trên thực tế, nhiều quốc gia đang phát triển vẫn tồn tại những biện pháp trực tiếp lẫn gián tiếp để quản lý giá vé máy bay nội địa. Thái Lan và Trung Quốc vẫn duy trì khung giá vé máy bay nội địa để hỗ trợ người dân tiếp cận hình thức vận tải này (http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2010-06/01/content_9918022.htm). Trong đợt tăng giá vé máy bay đột biến tại Ấn Độ vào cuối năm 2010 vừa qua, nếu không có sự can thiệp mạnh tay chính phủ Ấn, người dân Ấn sẽ phải gánh chịu mức tăng chi phí đi lại quá cao vì lạm dụng price-fixing giữa các hãng.

Ông PTGD của Jetstar phân tích “bỏ giá trần không đồng nghĩa với tăng giá vé. Vé mua sát giờ bay, vé trong giờ đẹp sẽ cao hơn nhưng cũng sẽ có rất nhiều vé giá rẻ được bán ra, kích cầu đi lại.”. Bài báo trên SGGP cũng viết “Các hãng HK sẽ được phép tự định đoạt giá vé dựa theo nhu cầu thị trường, chi phí, chất lượng dịch vụ. Người ta chỉ khống chế giá trần đối với các đường bay độc quyền, tức chỉ có một hãng HK khai thác, còn hiện nay ở Việt Nam, hầu hết các đường bay trong nước đã đều có từ 2 hãng HK trở lên khai thác nên việc khống chế giá trần không có lợi.”

Lập luận như trên chỉ đúng trên lý thuyết. Hiện nay, trên 2 tuyến đường SGN-DAD và SGN-HAN, VNA vẫn đang chiếm từ 69 đến 82% tổng số ghế. Với chiến lược mở rộng đội bay của VNA trong vài năm tới, khó có thể nói các tỷ lệ này sẽ giảm đi đáng kể. Khả năng tăng chuyến với đội bay hiện tại của Jetstar và Air Mekong gần như là rất khó, ngay cả khi có thêm xuất hiện của hãng hàng không mới trong vài năm tới, VNA vẫn có cơ hội duy trì mức giá vé cao trong vòng 3-4 năm.

3) Mô hình kinh doanh kém linh hoạt

Bài báo trên SGGP viết: “Cụ thể, các hãng HK có thể bán vé giờ cao điểm, giờ chót tại sân bay cao hơn, bù lại sẽ dành mức giá tiết kiệm, giá rẻ cho những hành khách ít tiền nhưng đặt vé sớm, hoặc chấp nhận bay vào những giờ bay thấp điểm (như bay đêm…).
Như giai đoạn cao điểm trước và sau Tết Nguyên đán chẳng hạn. Trên một số đường bay như TPHCM – Hà Nội, TPHCM – Đà Nẵng có nhu cầu rất cao và thường chỉ diễn ra một chiều, chiều ngược lại nhu cầu rất thấp. Điều đó làm cho hệ số ghế chuyến bay khứ hồi trong giai đoạn cao điểm lệch đầu còn thấp hơn so với giai đoạn bình thường. Nếu bỏ giá trần, các hãng HK sẽ tăng giá vé chiều bay ra, giảm giá vé chiều bay vào để tránh lỗ.

Thực tế, đa số hành khách thường mua ở mức giá vé trung bình và các hãng hoàn toàn có khả năng điều chỉnh mức giá vé cao hay thấp theo nhu cầu thị trường và thời điểm mua vé. Hiện tượng chênh lệch hệ số ghế trước và sau Tết Nguyên Đán là nằm ở cầu của thị trường và hãng có thể điều chỉnh lịch bay và hoạt động bay linh hoạt theo đó. Tại sao giá trần lại là nguyên nhân, trong khi thực tế các hãng vẫn có khả năng tăng số lượng mức vé tại trần, như trong dịp tết vừa qua?

Thay vì dựa dẫm vào biện pháp tăng giá vé cơ bản, tôi nghĩ mô hình kinh doanh hàng không nội địa cần phải có sự thay đổi. Thay vì cung cấp vé theo hạng bay như hiện nay, cần thiết phải cung cấp dịch vụ có khả năng tùy biến và đa dạng đến hành khách. Chẳng hạn: Thu phí hành lý ký gửi, tùy chọn bữa ăn và chỗ ngồi có trả tiền, phụ phí nhiên liệu… Thậm chí, các hãng truyền thống của Hoa Kỳ hiện nay cũng học tập theo mô hình dịch vụ đa dạng và tùy biến của các hãng low-cost.

Hiện nay, Jetstar Pacific đã được xem như là hòa vốn và bắt đầu có lời. VNA với 800 triệu USD doanh thu hàng không nội địa, và hãng bù lỗ 30 triệu USD trong năm qua (khoảng bù lỗ tương đương 3.75% doanh thu). Hai hãng này vẫn đang cạnh tranh với giá vé khuyến mãi luôn có hàng ngày. Điều này chứng tỏ rằng thực tế không đáng phải “bi đát hóa” như các bài báo kể trên đã vẽ ra.

Với tình hình chi phí và lạm phát gia tăng như hiện nay, thay vì dỡ bỏ hoàn toàn vé trần máy bay nội địa, giải pháp mềm hơn đó là nới lỏng kiểm soát giá. Động thái này vừa tránh tạo cú shock cho người tiêu dùng, vừa có sức ép các hãng phải: (1) thực hiện chính sách quản lý chi phí chặt chẽ; (2) tổ chức lại mô hình kinh doanh hàng không nội địa; (3) tổ chức hoạt động bay linh hoạt hơn. Tất nhiên là không thể thiếu sự hỗ trợ của nhà nước về phát triển hàng không nội địa trong dài hạn và giảm thuế đầu vào trong ngắn hạn như các quốc gia trên thế giới vẫn đang thực hiện.

Nói như vậy để thấy rằng các hãng vẫn hoàn toàn có khả năng tự điều chỉnh thích ứng với tình hình khó khăn như hiện nay, hơn là mãi kêu ca khó khăn và chuyển mọi gánh nặng lên vai người tiêu dùng.

———-