Category: Online Marketing

Group-buying thời "gạo cao lương kém"

Trong bài viết trước đây về mô hình của Groupon (Một vài suy nghĩ về mô hình Groupon), tôi có phân tích & nhận định rằng những mô hình như thế này sẽ phát triển về hoạt động bán hàng dài hạn hơn là chỉ phát huy được tác dụng quảng cáo như hiện nay. Để cho rõ ràng, tôi cố gắng tóm tắt sự phát triển của mô hình này qua 3 giai đoạn như sau:

  1. Online coupons, promotional deals listing
    Đây là giai đoạn khởi đầu, thay thế cho cách thức quảng cáo coupon/deals trên các phương tiện thông tin truyền thống như báo in, tạp chí
    – Vai trò trung gian thương mại: hoàn toàn không tồn tại, chỉ thuần túy là một kênh quảng cáo trực tuyến
    – Trách nhiệm trung gian thương mại: không tồn tại, doanh nghiệp chỉ trả tiền quảng cáo coupons/deals của mình trên các websites này
  2. Group-buying
    Đây là giai đoạn hiện nay, khai thác có hiệu quả hơn việc quảng bá coupon/deals bằng cách bán giá rẻ có điều kiện
    – Vai trò trung gian thương mại: Đã xuất hiện
    – Trách nhiệm trung gian thương mại: Đã xuất hiện nhưng ở mức độ thấp, tạo ra sự gắn kết với doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp hiểu rõ được mô hình kinh doanh kiểu mới
  3. Social-shopping (tạm thời sử dụng từ nay để mô tả)
    Đây là giai đoạn tiếp theo, chuyển dịch từ hoạt động quảng bá sang bán hàng hóa/dịch vụ hướng về giá trị (hơn là về giá rẻ)
    – Vai trò & trách nhiệm trung gian thương mại ở mức độ cao hơn, đặt trọng tâm vào quản lý quan hệ với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng

Ở hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, mà tôi gọi là “gạo cao lương kém” – sự gia tăng chi phí đầu vào & chi phí vốn sẽ dẫn đến tình trạng:

  • Doanh nghiệp khó duy trì liên tục các hoạt động bán hàng giá rẻ dưới áp lực chi phí. Nếu tiếp tục bán hàng giá rẻ, chiết khấu quá cao thì doanh nghiệp không chỉ vừa bị rơi vào áp lực chi phí , mà còn sẽ mất đi phần lợi nhuận tiềm năng từ đối tượng khách hàng hướng về giá trị (hơn là giá rẻ)
  • Doanh nghiệp khó tiếp tục duy trì mức lợi nhuận ổn định. Đây là điểm mấu chốt (bottom-line) bởi vì tăng trưởng lợi nhuận gian nan hơn duy trì lợi nhuận ổn định rất nhiều lần
  • Người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu vào các loại hàng hóa dịch vụ không thiết yếu (du lịch, giải trí, ăn uống bên ngoài, mua sắm…)

Tuy nhiên, cơ hội không phải là không có:
– Đối tượng khách hàng tìm kiếm giá trị (hơn là giá rẻ) vẫn phát triển
– Đối tượng khách hàng rất nhạy cảm về giá sẽ tăng cường tìm kiếm deals/coupons

Dẫu rằng những mô hình group-buying ở giai đoạn 2 có mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng thực tế hoàn toàn không phải như vậy:

  • Negative net working capital (chính xác hơn là Cash Coversion Cycle âm): Doanh nghiệp thu tiền trước của người mua, trả cho nhà cung ứng. Đây là con dao 2 lưỡi nếu không sử dụng đúng cách, nếu bán giá quá rẻ thì doanh nghiệp chỉ đảm bảo chi trả được một phần lãi vay và chi phí đầu vào. Nghĩa là doanh nghiệp cho dù có được Cash Conversion Cycle âm, nhưng doanh thu giảm và chi phí vốn tăng (thời gian thanh toán lãi vay + chi phí đầu vào kéo dài; phải huy động thêm operating capital để đáp ứng khối lượng khách hàng mua dịch vụ với giá quá rẻ) làm cho hiệu quả của Cash Conversion Cycle âm trở nên không đáng kể
  • Chi phí thu hút khách hàng mới thấp: Điều này đúng nếu doanh nghiệp bỏ qua việc so sánh lợi ích này đối với các yếu tố khác (chi phí cơ hội, chi phí vốn, tần suất trở lại của khách hàng…)

Do đó, đã xuất hiện tình trạng Doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết bán hàng giá rẻ, niêm yết bán giá rất thấp nhưng để mua được thì người tiêu dùng phải bỏ thêm chi phí; và một số hình thức biến tướng mập mờ khác. Đối với những mô hình hiện nay như Groupon, siêu giảm giá & quảng cáo chỉ là biện pháp, không phải là mục đích của mô hình. Ngoài ra, các mô hình ở giai đoạn 2 sẽ không tồn tại được lâu, bởi lẽ:

  1. Cạnh tranh gay gắt giữa các group-buying sites sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của mô hình hiện tại
  2. Luôn tồn tại nhu cầu cần phải mở rộng đối tượng phục vụ, nâng cao chất lượng và quan hệ với cả hai phía: doanh nghiệp & người tiêu dùng
  3. Quan trọng nhất: Sự ra đời của các nền tảng và ứng dụng tích hợp cung cấp deals/coupons với các công nghệ location-awareness + mobile payment + QR code (của Google, Facebook, Amazon, và các nhà phát triển độc lập khác) sẽ dẫn đến sự thay thế group-buying sites ở giai đoạn 2, bởi vì doanh nghiệp sẽ tìm thấy một giải pháp quảng bá tương đương với chi phí thấp hơn.

Đối với các trung gian thương mại như group-buying sites hiện nay, việc chuyển dịch ra khỏi giai đoạn 2 sẽ mang lại hai cơ hội quan trọng:
– Đối tượng khách hàng tìm kiếm giá trị không đòi hỏi giá bán quá thấp, mà sẽ đưa ra quyết định dựa trên chất lượng dịch vụ và giá, do đó mang lại phần chiết khấu cao hơn cho group-buying sites
– Cơ hội để xây dựng cộng đồng người tiêu dùng trung thành với website để duy trì cộng đồng người mua cho các doanh nghiệp

Về góc độ cá nhân, đối với Việt Nam, tôi nhận thấy tốc độ ứng dụng mô hình kinh doanh group-buying hiện nay là rất nhanh, có thể nói là không hề thua kém Hàn Quốc và Trung Quốc. Mặc dù các group-buying sites của VN còn mới và nảy sinh nhiều bất cập do chưa nhận thức đầy đủ toàn diện mô hình, nhưng chắc chắn là họ sẽ có những điều chỉnh hợp lý.

——————————————————————————–

* Một bài viết khác đáng đọc: Mua sắm cộng đồng ở Việt Nam: Chưa “gặp thời”

Multi-channel Funnels – Sức mạnh mới của Google Analytics

Hôm 25/8, Google Analytics (GA) ra mắt một chức năng quan trọng trong phiên bản mới, Multi-channel Funnels (MCF). Lý do xem MCF là quan trọng chính là vì:

1) Giúp doanh nghiệp phân tích tác động dây chuyền của các nguồn ảnh hưởng từ các kênh trực tuyến (email, organic search, paid search, social networks…) đến quyết định mua hàng (hoặc một hành động bất kỳ) của người tiêu dùng trên website.

Trước khi có MCF, ta chỉ có thể xác định chính xác kênh trực tuyến cuối cùng dẫn đến quyết định mua hàng của NTD. Còn với MCF, thì chúng ta có thể xem xét cả quá trình mua hàng của NTD từ kênh gây ảnh hưởng đầu tiên (First Interaction), các kênh ảnh hưởng trung gian (Assisted Interaction), và kênh cuối cùng (Last Interaction)  trong một chuỗi dây chuyền mà GA gọi là Conversion Path.

2) Thể hiện rất rõ ứng dụng của Google trong việc khai thác dữ liệu truy cập của con người.

Để dễ hình dung về Multi-channel Funnels, có thể ví dụ một trường hợp:

– Ngày 10/8, từ fan page của Tiki.vn trên Facebook có đăng quảng cáo về cuốn sách Safe Haven của Nicholas Sparks, tôi rất thích và click vào link này, nhưng giá tiền đến 230,000đ mà lại đang kẹt tiền nên tôi không mua.

– Ngày 15/8, tôi quyết định tìm phiên bản ebook của cuốn sách này trên mạng cho đỡ tốn tiền, bằng cách search Google. Tuy nhiên trong kết quả lại có link dẫn đến trang bán sách của Tiki.vn. Tôi thay đổi suy nghĩ và quyết định đợi khi Tiki giảm giá sẽ mua. Tôi liền đăng ký vào mailinglist của Tiki để nhận thông báo.

– Ngày 22/8, tôi check Gmail và nhận được email của Tiki báo rằng Safe Haven được giảm giá 17%, chỉ còn 190.000đ. Tôi quyết định mua ngay, click vào link bán sách từ email và trả tiền.

Như vậy, bằng cách thu thập dữ liệu về hành vi khi tìm thông tin về cuốn sách Safe Haven, Google Analytics có thể xây dựng một chuỗi bao gồm các kênh tác động đến hành vi mua hàng của tôi như sau:

Social Network (First Interaction) -> Organic Search (Assisted Interaction) -> Email (Last Interaction)

Bằng cách phân tích các Conversion Paths trong Google Analytics, Tiki.vn có thể xác định chuỗi tác động nào đóng góp vào doanh thu lớn nhất và yếu tố khác. Một ứng dụng rất quan trọng trong sales & marketing.

Bằng cách nào Google có thể xác định được tôi?

Rất dễ dàng bằng cookie, session, IP, thông tin về máy tính & trình duyệt – Google có thể xác định gần như chính xác.

Tuy nhiên, không phải là không tồn tại nhiễu. Ví dụ: tôi có thể vào web tại nhà bằng laptop sử dụng trình duyệt Chrome; nhưng khi mua hàng tôi lại dùng iPad tại một quán cafe nào đó. Tuy nhiên nếu trong cả hai trường hợp trên, tôi đều đăng nhập vào Google thì Google Analytics có thể xác định chính xác Conversion Path của tôi.

Một ví dụ khác mô tả sức mạnh của Multi-channel Funnels, đó là khi bạn xem quảng cáo của máy tập thể dục trên TV bằng một Internet TV hỗ trợ GoogleTV. Google bằng cách indexing các kênh truyền hình, sẽ xác định được bạn đang xem quảng cáo nào vào thời điểm nào. Khi bạn mua hàng trực tuyến, Google Analytics có thể giúp nhà sản xuất máy tập thể dục đo lường không chỉ ROI mà còn là chuỗi tác động đến quyết định mua hàng của NTD.

Trong bối cảnh tăng trưởng của quảng cáo trực tuyến, và sự phân hoá đa dạng của các thiết bị kỹ thuật số; thách thức phải tối ưu các chiến lược tiếp thị qua môi trường đa kênh sẽ được giải quyết đáng kể bằng MCF.

————-

Introducing Multi-Channel Funnels: discover untapped opportunities in your conversion path

Google Analytics – Chết vì thiếu hiểu biết?


Có dịp đọc qua bài 10 lực lượng cản trở Google’s domination (phần 2) của bác TanNg, thấy bác có phân tích về vấn đề của Google Analytics, tôi cũng góp thêm một số chia sẻ để nhìn khách quan hơn về cách tính toán dữ liệu của Google Analytics (GA). Tôi không có ý định bài bác lại quan điểm của ai, mà chỉ muốn thấy rằng nguyên nhân nằm ở GA đang lập lờ đánh lận con đen hay do những người làm SEO thiếu hiểu biết thừa ảo tưởng? 
Để hiểu đúng về cách GA ghi nhận traffic sources, tôi tham khảo từ các bài viết sau đây, có mô tả cách thức ghi nhận của GA, như sau:


  1. How Does Google Analytics Track Conversion Referrals?

  2. Google Analytics – Traffic Sources

  3. Discussions > Analytics Basics > initial referrer



Như vậy, trật tự ghi đè traffic sources sẽ được minh họa như sau:

Thứ nhất, theo mặc định phổ biến, cookie GA với 1 chuỗi unique ID sẽ được cài đặt và lưu lại trong trình duyệt sẽ hết hạn sau 6 tháng. Như ta thấy, Organic Search luôn bị ghi đè bởi các nguồn khác trừ Direct. Một điều cần nhớ rằng: Hầu hết trong online marketing campaigns, các loại hình quảng cáo như banner, newsletters, thậm chí flash-banners đều có sử dụng kỹ thuật manual tagging. Do đó, các traffics đến từ những nguồn này sẽ ghi đè lên organic search trong dữ liệu thống kê.
Thứ hai, nên nhớ rằng dù cho GA có ghi nhận giá trị cuối cùng (last click) là Organic Search hay khác nữa thì các nguồn truy cập quá khứ cũng đều được ghi nhận (dòng dữ liệu liên tục).
Ví dụ:
– Ngày 1: A thăm website X qua các nguồn: direct, banner, search. Last click có thể là search nhưng “lần click vào banner” vẫn được ghi nhận trong GA.
– Ngày 2: A thăm lại website X qua các nguồn email, search, banner. Last click có thể là banner, nhưng “lần truy cập qua search” vẫn được ghi nhận trong GA.

Thứ ba, xét theo thời gian trong vòng 6 tháng, liệu ta có thể lập luận rằng: GA đã phủ định vai trò của Direct Traffic và gom công của nó vào Organic Search? Nghe có vẻ đúng nhưng chưa hẳn, bởi vì:
Sự tăng trưởng của các referral sites (Facebook, Twitter, Myspace, Digg…) sẽ tạo sức ép lên tỉ lệ Organic Search. Các marketers sẽ tập trung vào tỉ lệ này hơn là Organic Search, dẫn đến vai trò của nó bị đẩy xuống hàng thứ yếu. (Xem: Facebook – back to basics)
Sự thu hẹp của Direct Traffic về mặt khách quan:


  • Xu hướng tích hợp các công cụ search, widget vào trình duyệt, desktop ảnh hưởng đến hành vi duyệt web của người sử dụng.

  • Sự phổ biến của kỹ thuật Manual Tagging không chỉ áp dụng trong các loại banner-ad, email-ad, mà còn được áp dụng trong các flash-ad, text-link-ad, RSS, ứng dụng desktop để ghi nhận chính xác hơn các nguồn traffic.

  • Direct Traffic phản ánh khá chính xác tỉ lệ người truy cập trung thành với website, nhưng hành vị duyệt website bị thay đổi do (1) và (2)



Do đó, không thể vội vàng kết luận rằng giá trị mang lại của các loại hình quảng cáo trên sẽ chỉ được tính một lần trong GA. Hơn nữa, trong GA, ta có thể dễ dàng phân tích dữ liệu traffic sources theo time-frame bất kì, do đó có thể loại bỏ yếu tố cộng dồn traffic vào Organic Search một khi campaign kết thúc.
Nhưng last-click lại cực kỳ quan trọng trong một số trường hợp điển hình dưới đây:
2- Một số vấn đề phát sinh đến từ cách ghi nhận traffic sources của GA
Ví dụ 01:
Tuy nhiên, thực tế thì lại không đơn giản như vậy. Một chiến dịch quảng cáo phổ thông sẽ bao gồm cả các hoạt động online và offline. Ta hãy xem điều gì xảy ra với 1 chiến dịch quảng cáo:
Nhãn hàng X quảng cáo cho microsite của họ www.sanphamx.vn thông qua kênh thứ nhất (TVC, print, mobile, radio), và kênh thứ hai (online banner ads, viral referral links, newsletters, SEO). Chi phí cho kênh 1 thông thường tốn kém hơn rất nhiều lần kênh 2.
– Thông qua kênh 1, tôi truy cập trực tiếp vào website www.sanphamx.vn hoặc Google “sanphamx.vn” –> GA sẽ ghi nhận traffic là Direct hoặc Organic.
– Hôm sau, tôi online đọc báo tại Dantri và nhìn thấy banner của X, click vào –> GA sẽ ghi đè lên với dữ liệu mới có Manual Tagging.

Về ngắn hạn, đây là tai họa cho những người làm quảng cáo ở kênh thứ nhất vì chi phí quảng cáo cao hơn nhưng sức ảnh hưởng lại bị kênh thứ 2 cướp một phần lớn công sức. Tuy nhiên, về dài hạn, sự ảnh hưởng của kênh 1 (Xem 3- Cách thức ghi nhận traffic sources của Google Analytics có ý nghĩa gì?) sẽ thể hiện rõ nét hơn ở Organic và Direct Sources.
Ví dụ 02:
Website bán hàng Y có hai website liên kết là X và Z. Website X và Z sẽ được hưởng % hoa hồng đối với mỗi giao dịch thành công tại Y khi khách hàng đến từ website liên kết tương ứng. Script GA sẽ ghi nhận điều đó tại “trang goals”.
– Tôi vào X, xem thấy thông tin về sản phẩm Y và rất thích thú nhưng không mua.
– Hôm kia, tôi vào Z và thấy thông tin về Y và quyết định mua.
Khi đó, GA sẽ ghi nhận Z sẽ được hưởng % hoa hồng. Theo lập luận của một số người, X mới phải đáng được hưởng % vì khách hàng vào website X và biết thông tin sp Y đầu tiên. Tuy nhiên, với cách ghi nhận của GA, X sẽ bị thiệt thòi.

Tuy nhiên, Google đã chính thức công khai API của Google Analytics vào Q4/2008, có nghĩa rằng: các giới hạn của GA đã có thể được giải quyết theo cách thức riêng của những người làm SEO. Thậm chí có thể loại bỏ sự ảnh hưởng của Organic Search.
3- Cách thức ghi nhận traffic sources của Google Analytics có ý nghĩa gì?
Ở đây, GA ghi nhận Organic Search ưu tiên hơn Direct là không sai về mặt hành vi người dùng. Bạn thích gõ thẳng vào ô trình duyệt “Luật Lao Động” và thấy ngay toàn văn Luật LD hay vào website luật rồi lục tìm trong đấy? Ở một khía cạnh khác, Organic Search thể hiện tính chủ động cao hơn của người sử dụng (người ta biết đến và hành động để tìm thêm thông tin xung quanh sản phẩm). Điều này phản ánh bản chất phân tán thông tin của sản phẩm dịch vụ trong môi trường internet.
Nếu ta quan sát các loại hình quảng cáo tại Trung Quốc, Nhật và Hàn, có đặc điểm chung là hình thức quảng cáo “CALL-TO-ACTION” hiện đang chiếm ưu thế. Điển hình là mỗi TVC chỉ dài 10-15 giây, và “Call-to-Action” bằng cách kêu gọi người dùng nhập từ khóa tại các công cụ tìm kiếm như Naver hoặc Daum để biết thêm thông tin.
Sự phát triển của vertical search, product comparison càng đóng vai trò lớn hơn trong việc hỗ trợ người tiêu dùng đưa ra các quyết định tiêu dùng.
Cuối cùng, xét về khía cạnh truyền thông thương hiệu, Organic Search thể hiện mối quan tâm của người tiêu dùng về mặt dài hạn.
Rõ ràng rằng cách thức ghi nhận traffic sources của GA không hẳn mang đến những giá trị không thực.
Sự thật rằng là nếu chúng ta biết cách làm chủ GA hơn là ghi nhận thông tin một cách mù quáng, thì vấn đề sẽ không trở nên nghiêm trọng như chúng ta đã từng nghĩ.

nhìn chung về chiến dịch Tìm Em của Close-Up

Không có gì là hoàn hảo

Vụ scandal sex Hoàng Thùy Linh trước đây, tôi còn nhớ có chuyện staff của một công cụ tìm kiếm video nổi tiếng tại Việt Nam cố tình đẩy clip sex để hút traffic được phơi bày cặn kẽ cho đến cả cái giao diện Gmail. Nói như vậy để thấy rằng: Giữ bí mật trong thời đại internet là cực kỳ khó khăn. Chẳng có gì là hoàn hảo. Mà một chiến dịch hoàn hảo không có nghĩa là một chiến dịch thành công. Một chiến dịch marketing dù là “social media” hay “traditional media” cũng không khác gì nhau.

Góc nhìn của tôi về chiến dịch “Tìm Em Nơi Đâu (TEND)”

Đây không phải là một chiến dịch SMM (social media marketing) theo đúng nghĩa. Dù là một chiến dịch hay và sáng tạo, nhưng cách thực thi không khai
thác triệt để SMM (làm quản nhãn, ai dám risky, đặc biệt là với nhãn lớn chứ nào phải nhãn bé tí như cái video search-engine như ở đầu câu chuyện). Ở đây, chỉ sử dụng BTL social media tools (forum, blogs…) để tạo ra bối cảnh tình huống cho chiến dịch (câu chuyện của Nam Lê). Ở giai đoạn sau, Close-Up nhảy vào giống như “superman chuyên đi cứu rỗi & truyền bá sự tự tin cho giới trẻ” và giảm dần sức ảnh hưởng của câu chuyện Nam Lê lên toàn bộ chiến dịch. Ở giai đoạn này, Close-Up phủ ATL ngập mặt và tận dụng BTL để lái sự chú ý của công chúng sang ý nghĩa đích thực của chiến dịch. Đây là một chiến lược ngôn ngoan và cần thiết.

Về cơ bản, ta có thể thấy 3 trạng thái của chiến dịch như sau:

1) Users lan truyền câu chuyện của Nam Lê, chứ không phải Close-Up

2) Chỉ khi Close-Up vào cuộc với TVC, print-ad, OOH thì sự hiện diện
của Close-Up mới bắt đầu. Câu chuyện của Nam Lê chỉ là cái cớ để nói về
sự tự tin trong chiến dịch của Close-Up

3) Sau event 14/2, hình ảnh của Nam Lê “chết ngắc”, chỉ còn hình ảnh Close-Up với thông điệp “Chúc bạn tự tin tìm kiếm TY”

Tại (1), social media đóng vai trò là key media tool, đảm nhiệm việc “kéo” sự chú ý của người xem.

Từ giai đoạn (2) trở đi, traditional media thay thế social media trở
thành key media tool, dùng để “đẩy” thông điệp về người xem.

Như vậy, TEND là một chiến dịch truyền thông tiếp thị tích hợp, có sử
dụng social media tools. Chứ không đơn thuần là social media marketing
campaign.

Thế nên:

  1. TEND là một chiến dịch online marketing thành công về mặt chi phí, xài tiền khôn ngoan (tính hiệu quả)
    Tôi cho rằng đây không phải là một nhận xét đúng. Nên sửa lại là xài tiền ít hơn chứ chưa phải là xài tiền khôn ngoan. Hiệu quả về chi phí hay không thì phải có số liệu phân tích cho rõ ràng. Làm SMM mà quất ATL tá lả như vậy thì có thực sự tận dụng hết lợi thế của SMM hay không? Mức độ Engagement của người xem như thế nào? Tỉ lệ người nhận thức sự kiện một cách bị động vẫn còn rất cao so với những người nhận thức và tương tác với chiến dịch.
  2. TEND là một chiến dịch online marketing thành công về mặt awareness
    Tôi cho rằng đây không phải là một nhận xét đúng, thậm chí còn có tính chất ba phải. ATL phủ vậy sao không tăng?
  3. TEND là một chiến dịch sáng tạo, thể hiện khả năng tự sướng cao độ của các nhân vật liên quan.
    Cái này thì đúng à. Close-Up vẫn đang dẫn đầu thị phần kem đánh răng tại VN. Chiến dịch TEND tung ra mà Colgate cũng chẳng có phản ứng gì. Thực ra brand-personality của Colgate không cho phép họ có can đảm được “teen & lố” như Close-Up. Do đó, có hay không có một chiến dịch TEND cũng chẳng ảnh hưởng gì lớn. Tóm lại, chỉ đơn giản là mỗi năm làm một cái event gì hay hay ho ho cho “sắp trẻ” tụi nó có cái hứng thú để trung thành với mình. Nếu Close-Up đang trong hoàn cảnh cạnh tranh mạnh để giành thị phần với một nhãn khác, thì không dám chắc họ sẽ triển khai TEND theo hướng như trên.

Logistics của Campaign

Về mặc logistics, các agencies của chiến dịch này đã hoàn thành khá tốt vai trò của họ. Chiến dịch đã xem như hạ cánh an toàn nếu không có chuyện Lowe “chơi không đẹp” với một freelancer “tay non” làm mọi chuyện bị bóc mẽ. Thực ra thì dư luận đã biết từ trước, có bóc hay không cũng chẳng ai bận tâm.

Tóm lại, TEND là một chiến dịch không tệ hại và thê thảm như nhiều bloggers tô vẽ. Quan trọng ở đây là người tiêu dùng có còn mua Close-Up hay không mà thôi. Chiến dịch TEND không thể coi là quảng cáo lừa dối k/h để bán sản phẩm”. Hơn nữa, bà con ta đang trong thời kỳ nhạy cảm về chuyện giá cả hơn là cái chuyện xài kem đánh răng nào để tự tin.

Close-Up mà có khuyến mãi là mình đi mua liền hà.