Category: Social Media

"Tám" về chiến lược sản phẩm của Google

Dạo này thấy mọi người thảo luận nhiều về Google+. Mình cũng thích Google+; nhưng lại ghiền quan sát chiến lược sản phẩm của Google hơn. Thế thì “tám” về product strategy vậy.

Năm 2007, tôi phải gọi năm này là năm trào lưu mạng xã hội. Truyền thông ngập tràn về Myspace, Facebook, Cyworld, và bắt đầu đề cập sâu hơn về khái niệm social media. Thời điểm đó, Google có gì? Họ có Search, Gmail, Google Docs, Google Maps, Adsense & Adwords; và vừa mới mua Youtube.

Năm 2007 cũng là năm Yahoo bắt đầu trượt dốc với chiến lược “Search + Content”.

Thời điểm này đặc biệt quan trọng, vì Google sớm nhận ra: Chỉ hiểu users qua Search và các hoạt động trên sản phẩm của Google (nghe nhạc gì, đọc tin gì, nghiên cứu về cái gì, vị trí ở đâu, gọi cho ai, blog về nội dung gì) là hoàn toàn không đủ.

Google cần một social network. Không có social network, Google không thể “hiểu & phân loại” các mối quan hệ xã hội dựa trên hoạt động kết nối truyền thông thông thường (share, comments, likes, suggests, interests…) như Facebook. Nếu chỉ phân loại quan hệ qua các sản phẩm của Google thì sẽ không hiệu quả, không phản ánh hầu hết hoạt động của users trong môi trường đa truyền thông. Ngoài ra, privacy policy, triết lý kinh doanh “don’t be evil” cũng ảnh hưởng đến phương pháp tiếp cận thông tin riêng tư & cá nhân của users. Mọi hoạt động quan hệ xã hội trực tuyến của users nằm ngoài vùng phủ sóng của Google.

Google cần một chữ S khác hơn là Search. Họ bắt đầu chiến lược “Social + Search”.

Năm 2007 cũng là năm Google phát hành nền tảng OpenSocial và mua lại Jaiku và Zingku – một mạng xã hội trên mobile. Thử tìm lại những hình ảnh cũ về Zingku trên Google Images, tôi có thể thấy nhiều ảnh hưởng về ý tưởng của Google+ đến từ Zingku.

OpenSocial thất bại bởi vì những lý do rất căn bản: (1) Trào lưu phát triển API riêng của mỗi SNS phổ biến hơn bởi nhu cầu mở rộng những giá trị riêng và mục tiêu riêng; (2) OpenSocial chỉ mang lại giá trị cho Google hơn là các SNS độc lập khác; (3) Tìm được tiếng nói chung cho OpenSocial là điều vô cùng khó khăn; chưa kể đến các vấn đề về kỹ thuật & công nghệ; (4) và “cha chung thì chẳng ai khóc”.

Thất bại của OpenSocial dẫn đến phá vỡ liên kết Google với các SNS độc lập khác, liên kết lỏng lẻo với các dịch vụ social media như Twitter, và cạnh tranh đối đầu khốc liệt với Facebook.

Thất bại của Jaiku trước Twitter cũng đồng nghĩa: Chỉ hiểu về tầm quan trọng của Social Media thì không đủ để chiến thắng. Điều này cũng có nghĩa là: Google không có một sản phẩm social network thành công, và tự tách biệt mình ra khỏi thế giới social media.

Cuối năm 2007, Microsoft mua cổ phần Facebook và âm thầm phát triển Bing (launch sau đó 2 năm). Nghĩa là: Theo đuổi chiến lược “Social + Search” không chỉ có mỗi Google. Trên mặt trận social media, Microsoft đang là con thỏ, và Google đang là con rùa; mà con thỏ này thì không hề lười nhác.

Nhìn tổng quan, điều kiện thị trường, vị trí cạnh tranh, và tư duy điều hành khiến cho chiến lược “Social + Search” không đạt hiệu quả như mong muốn. Shareholders sẽ nghĩ gì về giá trị của Google khi nó thất bại về growth & expansion strategies?

Phải đến năm 2010, khi Android bắt đầu phổ biến. Cũng là lúc Google đẩy mạnh tích hợp với 2 xu hướng: (1) tích hợp nội bộ các sản phẩm Google hiện tại; (2) tích hợp product portfolios của Google với Social Media. Phải nói là Google cực kỳ agrressive với chiến lược sản phẩm này. Nếu không? Khoảng 200 triệu người dùng Gmail sẽ quay mặt với Google vì nó thất bại trong lời cam kết liên tục cung cấp giá trị cho khách hàng. Giữ chân khách hàng hiện tại luôn khó hơn tìm kiếm khách hàng mới.

Nhưng với thất bại của Google Wave, và Google Buzz (tích hợp với Gmail); Google quên một điều: Ôm đồm tất cả không phải là giải pháp. Song hành với tích hợp cũng phải gắn liền với chia tách. Không chỉ đối với product portfolios của Google; mà còn với những dịch vụ của đối thủ (Twitter, Facebook): Xà phòng giặt máy và xà phòng giặt tay thì cũng là xà phòng giặt, nhưng khác ở chỗ là dành cho ai, cái gì (brand categorization & differentiation).

Google+ ra đời – đánh dấu chấm hết một giai đoạn mà Google chưa bao giờ thực sự thành công với SNS & social media. Đây là thành quả từ những bài học thất bại của Google như tôi đã bình luận ở trên. Càng có lí do để ngưỡng mộ Google, không phải chỉ bởi vì sản phẩm họ tạo ra, mà còn là triết lý “learning by failing“. Và vì họ phá vỡ được lời nguyền “too big to change“.

——————————

Nguồn ảnh: crazyengineers.com

Tám về Sina Weibo, Twitter, và Google+

  1. Google+ ra mắt, tôi đã nhận xét nó giống mô hình của Weibo hơn là Twitter.
  2. Trước khi Facebook giới thiệu giao diện profile mới vào ngày 21/9, Sina Weibo đã thử nghiệm giao diện mới. Điều trùng hợp là rất giống giao diện của Google+ & Facebook.
  3. Thời gian ở Bangkok, mỗi ngày ngồi metro, skytrain; cứ giờ tan tầm là tàu điện chật ních những người trẻ. Không ai nói với ai câu nào, tất cả chỉ là sự im lặng tập trung vào màn hình điện thoại.

    Cuộc sống trên đường phố của những người Thái trẻ là Facebook, Twitter, Whatsapp, Blackberry, iPhone, Android.

    Yahoo hay Nokia chỉ là những cái tên của quá khứ. Ngay cả MSN Messenger phổ biến một thời, nay chỉ dùng để chat tại gia.

  4. Khi sang Hongkong, Shenzhen một thời gian ngắn, cuộc sống trên tàu điện và đường phố của những người trẻ cũng cắm mặt vào màn hình không khác nhiều ở Bangkok.

    Điều khác dễ thấy là người trẻ Trung Quốc dùng QQ, Renren, Weibo trên iPhone, Android, Blackberry. Ở coffeehouse hoặc food court, nơi có wifi miễn phí, đôi lúc thấy họ dùng PPLive hoặc QQLive – những chương trình xem TV trực tuyến bằng công nghệ P2P rất phổ biến ở Trung Quốc.

    Mức độ ứng dụng công nghệ của những người trẻ Trung Quốc nhanh đến mức đáng kinh ngạc.

  5. Năm 2007, ở Trung Quốc, rất nhiều clones của những dịch vụ nổi tiếng ở Hoa Kỳ và Hàn Quốc.

    Năm 2010, người Trung Quốc bắt đầu tạo ra bản sắc riêng. Vẫn có clones, nhưng mô hình thì của riêng họ.

    Có phải sức ảnh hưởng quá lớn của công nghệ Trung Quốc đến mức tạo cho tôi cảm giác Google+ giống Weibo hơn là Twitter? Nếu đúng thì mô hình Sina Weibo có gì hay?

  6. Giá trị của Sina Weibo đến từ sự độc lập. Thương hiệu Weibo tách rời khỏi các web-services khác của Sina, nó không đi theo kiểu “all-in-one” như QQ đã làm với QQ Weibo.
  7. Sina Weibo là ecosystem có kiểm soát.

    Apps của Twitter được phát triển bởi các hãng thứ ba.

    Appstore của Sina Weibo bao gồm apps & games: từ các dịch vụ của Sina (music, shopping, news, radio); và 3rd-parties apps được cho phép.

    Ecosystem của Sina Weibo chính xác là cái mà Google+ sẽ trở thành.

  8. Ở Hoa Kì, người ta giành lấy từng hành vi tiêu dùng của khách hàng. Ở Trung Quốc, người ta giành lấy từng giây thời gian tiêu dùng của khách hàng.

    Đó là lí do vì sao Facebook tích hợp.
    Đó là lí do vì sao Google đẻ ra Google+.
    Đó là lí do vì sao Sina Weibo có gần như mọi ứng dụng để khách hàng khỏi phải chạy sang QQ.

     Thời gian là vàng!

  9. Văn hoá “Mục lục web”.

    Ai còn nhớ Yahoo Directory những năm 97-99? Nhưng ở những nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan thì mục lục web vẫn tồn tại.

    Twitter – Chủ đề thể hiện bằng #hashtags, tất cả đều ngang nhau, không thứ bậc trật tự; chỉ khác ở mức độ quan tâm.

    Weibo – Chủ đề thể hiện mọi chủ đề theo “mục lục web”, có trật tự thứ bậc, trên dưới; mà vẫn thể hiện được mức độ quan tâm ở mỗi chủ đề.

    Đó là sự khác nhau giữa hỗn độn và ngăn nắp.

  10. Nếu phải so sánh hình thức giữa một “tweet” và một “weibo”, tôi có thể nói ngắn gọn: Twitter là SMS; và Sina Weibo là MMS.

    Cách thể hiện stream của Google+ là ví dụ về Sina Weibo.

  11. Điểm gì chung nhất ở Cyworld Hàn Quốc, QQ và Sina Weibo?

    QQ có hệ thống huy hiệu; Cyworld có hệ thống “điểm quan hệ”; Sina Weibo có hệ thống huân chương – Người ta hay mô tả mô hình này với khái niệm gamification.

    Hệ thống gamification của Sina Weibo bao gồm khoảng 50 loại huân chương; và hệ thống rankings. Mỗi huân chương tồn tại trong vòng 24h, và thời hạn có hiệu lực để thưởng khác nhau, và thưởng cho từng hoạt động nhất định của người sử dụng Weibo. Nghĩa là: Khuyến khích liên tục chia sẻ và sáng tạo – Muốn có huân chương thì phải chạy đua!

    Twitter có gì? Người nổi tiếng thì mãi là người nổi tiếng, còn tweeter thì mãi là tweeter; chỉ có con số followers để tự sướng.

  12. Sina Weibo là thảo luận, Twitter là tán dóc.

    Sina Weibo có hai chế độ hiển thị messages: discussion thread (dành cho thảo luận); và dialogue (dành cho tán dóc). Nghĩa là nó giúp users dễ dàng theo dõi mạch thảo luận; đặc biệt đối với những chủ đề nghiêm túc.

  13. Sina Weibo hướng đến cộng đồng, Twitter hướng đến đám đông.

    Có bao nhiêu mối quan tâm mà Twitter cung cấp ở mục “Who To Follow”? Không nhiều, những quan tâm chung chung dành cho đám đông.

    Weibo giải quyết bằng cách đưa ra “Club” – nơi tập trung đa dạng từ chủ đề cho đến sở thích.

    Ở qui mô nhỏ hơn, Weibo cho phép phân nhóm theo mối quan hệ. Hãy nghĩ về lists của Facebook và Circles của Google+.

  14. Weibo dành cho người “lười”

    Hầu hết những người tiêu dùng đều “lười”. Tại sao mô hình portal all-in-one vẫn thông dụng ở Hàn Quốc, Trung Quốc? Vì lười! Người ta cần đến những nơi thông tin sẵn có hơn là gõ Search.

    Design concept của Sina Weibo đều có một landing page cho từng mục. Để làm gì? Phục vụ những người lười. 

  15. Khuyến khích danh tính thật

    Nhiều người Mỹ, và ngay cả ở Việt Nam phê phán Real-name policy của Google+. Nhưng chính họ lại ủng hộ tính minh bạch & danh tính thật trong môi trường Social Media. Đó là nghịch lý.

    Người Hàn Quốc đã sống với real-name policy gần 15 năm.

    Ở Sina Weibo, real-name policy là không bắt buộc, nhưng người ta cũng không thể giấu.

  16. Sina Weibo có chiếc áo của Twitter, nhưng ruột rà giống Facebook.

    Giống như Zing có thể đã có Zing Me, nhưng vẫn có thể có Zing Live. Có một bài học từ QQ: Cannibalization nếu quản lý không tốt.

  17. Năm 2007, tôi học tiếng Hàn để hiểu về xu hướng công nghệ của Hàn Quốc.

    Năm 2011, nếu có ai hỏi, tôi sẽ nói: Học tiếng Trung.

  18. Cuối cùng, chính phủ Trung Quốc nhìn Sina Weibo nói riêng và social media như thế nào? Đã thảo luận với @taitran ở đây: https://www.facebook.com/taitran/posts/10150301795461693

social media: từ product-level lên corporate-level

Hôm rồi, tôi có ghé qua trang Facebook của chương trình “Quỹ sữa vươn cao Việt Nam” do Vinamilk khởi động, xem ra mảng social media vẫn chưa thấy thực sự hiệu quả lắm. Mấy năm trước còn thấy Vinamilk khai thác blogs, bây giờ sang Facebook thì đúng lúc “bị chặn”. Tiếc cho các brands của Việt Nam mình thiếu nhiều môi trường để triển khai social media, nhất là đối với các chương trình cause marketing. Ngồi tiếc tới tiếc lui, thì chợt nhớ đến một case-study mấy tháng vừa rồi quan sát mà chưa có dịp chia sẻ – Chiến dịch “Saving Wild Life” của Dawn.
Dawn là một loại sản phẩm nước rửa chén đậm đặc của P&G, được bán ở khu vực Bắc Mỹ. Hầu như rất ít người tiêu dùng VN biết đến Dawn, nhưng người Việt ở Mỹ thì không xa lạ gì nhãn hiệu này. Được định vị là nhãn hiệu premium, hiệu quả tẩy rửa và diệt khuẩn cực mạnh, mà không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, và không gây hại với môi trường (tiết kiệm nước, không hóa chất gây hại).

Ở cấp nhãn hiệu, Dawn khai thác social media để thuyết phục target audience về hiệu quả và tính năng sản phẩm. Ngược lại với mô hình kiểm nghiệm bảo chứng sản phẩm truyền thống: Đó là tìm một đơn vị có uy tín kiểm nghiệm và chứng nhận; Dawn tạo điều kiện cho người tiêu dùng kiểm nghiệm hiệu quả thực tế. Những mẹo rất nhỏ như: dùng Dawn để tẩy vết dầu mỡ trên quần áo (thay vì xà phòng giặt), dùng thay xà bông tắm chó mèo trị rận, cho đến rửa quần áo, vật dụng ăn uống và đồ chơi của trẻ nhỏ… Tất cả được phổ biến thông qua các website đánh giá hàng tiêu dùng, và các trang mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, Youtube.

Tiến xa hơn một bước, P&G sử dụng Dawn trong các chương trình bảo vệ môi trường của tập đoàn. Chương trình tặng Dawn cho các nhân viên môi trường để giúp tẩy rửa các loài chim biển bị nhiễm dầu trong sự kiện tràn dầu tại vịnh Mexico. Mỗi người tiêu dùng khi mua Dawn sẽ kích hoạt mã sản phẩm trực tuyến để đóng góp cho campaign “Saving Wild Life“. Bất cứ ai cũng có thể theo dõi chiến dịch “Dawn Saves Wildlife” tại Facebook (http://www.facebook.com/dawnsaveswildlife) và Twitter. Với 255,000 thành viên tham gia và quyên góp được 90% mục tiêu (454,000 / 500,000 USD cho các sự kiện bảo vệ các loài động vật bị nhiễm dầu) chỉ là một phần nhỏ so với sự cải thiện tích cực hình ảnh của P&G.
Ở đây, chiến lược của Dawn cũng như concept của các campaigns đều đi từ tạo lập quan hệ với người tiêu dùng từ functional benefits -> emotional benefits -> social benefits. Tuy nhiên, nếu xét về khả năng tích hợp social media thì có 3 yếu tố khiến Dawn thành công (thông cảm phải viết tiếng Anh vì e là tui không nói hết được ý):
1) Consistent with brand strategies of both Dawn and P&G (product level & corporate level)2) Excellent communication between brands & consumers3) Good execution
Nói đại để nôm na là: Phù hợp với brand strategy là yếu tố quan trọng đầu tiên, còn cần phải có cả sự kiên trì lẫn nhất quán. Social media đâu chỉ có “một phát ăn ngay”, mà cả “mưa dầm thấm lâu” nữa. Vậy mới thấm cái chuyện triển khai social media ở product-level đã khó, tạo một chiến lược lâu dài từ product lên corporate-level lại còn khó hơn.
——————-

Dawn Eyes Facebook for Cause Marketing
How BP’s Oil Spill Will Create a Gusher of Money for P&G’s Dishwashing Liquid

Spotify và 15 năm trải nghiệm với nhạc số


  1. Spotify thay đổi hoàn toàn trải nghiệm sử dụng nhạc số của tôi. Khi người bạn gửi cho tôi một bài hát bằng ứng dụng Spotify trên iPhone. Bài hát cũng xuất hiện ngay lập tức trên iPhone của tôi. Khi đĩa nhạc mới của Brandy vừa ra mắt, chỉ cần một cú touch vào chức năng “Available Offline”, chỉ sau phiên vệ sinh cá nhân buổi sáng, tôi đã có cả một album 320kbps để nghe trên bus. Sức hấp dẫn của Spotify không chỉ đơn giản là bạn có thể nghe hàng triệu ca khúc miễn phí, mà còn ở hai khía cạnh lớn hơn: Thứ nhất, sự thay đổi nhận thức của người nghe nhạc đối với quyền sử dụng nội dung số. Thứ hai, hành vi chúng ta chia sẻ âm nhạc. Spotify khiến tôi nhận ra trải nghiệm sử dụng nhạc số của bản thân đã thay đổi lớn lao như thế nào trong vòng 15 năm qua.
  2. Trước 1998, chia sẻ bài hát mới thường là việc tôi phải viết thư (hoặc gọi điện thoại) cho đài truyền hình hoặc đài phát thanh, và …chờ đợi bài hát yêu thích được phát sóng. Sự chờ đợi có khi một tuần, vài tháng, cũng có khi là chẳng bao giờ. Thế hệ tôi thời bấy giờ gắn liền với những Quick & Snow, hay MTV Hitlist. 
  3. Năm 1998, lần đầu tiên tiếp xúc Internet, bài hát đầu tiên tôi download là bản “Angel of Mine” của Monica qua đường truyền dial-up. Chỉ là một đoạn sample 30 giây, nhưng mất đến 5 phút để tải về một file chỉ 500KB. Đầu năm 1999, khi MP3 bắt đầu trở nên phổ biến, bài hát MP3 đầu tiên tôi download là bản “Baby One More Time” của Britney Spears. Một file MP3 như vậy thường mất từ 15-30 phút để download. Vì vậy, tôi đành tìm các định dạng streaming (RealAudio/WMA), mỗi bài chỉ từ 700KB, chất lượng âm thanh chỉ ngang tầm radio. Hầu hết nhạc trong máy tính tôi thời đó chỉ ở dạng RM/WMA, thà có còn hơn không. Năm 2001, ADSL phổ biến. Các mạng P2P như Napster, Kazaa, và Limewire làm cho việc tìm nhạc MP3 trở nên dễ dàng, và nhanh chóng hơn. Trên máy tính, tôi cài hầu hết những P2P softwares phổ biến nhất thời đó. 
  4. Sự phổ biến internet tốc độ cao cũng kéo theo sự ra đời của các chuẩn music streaming chất lượng cao hơn trước đây. Dịch vụ online music radio trở nên phổ biến như MTV, MSN, Yahoo!, hay AOL. Năm 2003, SQL injection vốn là trò khá phổ biến trong giới hackers (ngày nay trò này đã trở nên lỗi thời và trẻ con). Lợi dụng trò này và lổ hỗng bảo mật của một số Windows servers thời đó, tôi hacked vào các third-party sites sử dụng 4 dịch vụ radio nói trên. Bỗng nhiên, tôi nắm trong tay hàng triệu bài hát. Làm sao để chia sẻ những kho nhạc khổng lồ này? 
  5. Rõ ràng, cho dù tốc độ internet có nhanh hơn, nhưng vẫn không có một cách thức mới hơn để chia sẻ âm nhạc. Đó là chưa kể rào cản về trình độ kỹ thuật, và mức độ tiếp cận Internet. Một điều hiển nhiên khác là hành vi chia sẻ bất hợp pháp nội dung có bản quyền. 
  6. Năm 2003, ý tưởng về Mukebox (một website nghe nhạc trực tuyến) nảy sinh khi một người anh chia sẻ với tôi ý tưởng nghe và chia sẻ nhạc giữa các thành viên trong một forum. Nếu bạn từng quan sát thị trường Internet vào thời điểm, sẽ dễ nhận thấy đây là thời kỳ thịnh vượng của các forum. Phần đông giới trẻ truy cập internet tại các quán net. Rõ ràng, ý tưởng nghe nhạc trực tuyến rất khả thi, và một số trang mạng tương tự đã bắt đầu. Đó là lí do tôi phát triển Mukebox, nhưng không phải là một website nghe nhạc trực tuyến, mà là một module nghe/chia sẻ âm nhạc có thể tích hợp với hầu hết các phần mềm forum phổ biển thời đó như PhpBB, Invisionboard & vBulletin. Với một số lượng đông đảo các forum lớn nhỏ như vậy, tích hợp Mukebox sẽ có hiệu ứng chia sẻ lan toả rộng hơn nhiều lần. Quan trọng hơn nữa, nó không thuộc về sở hữu của một bên độc nhất (như quan hệ FPT – Nhacso), mà là hoàn toàn tự do, bất kỳ webmasters nào cũng có thể làm được. Đó là mục tiêu lớn hơn mà tôi đặt vào Mukebox.
  7. Năm 2005, tôi bắt đầu tích hợp IRC, một giao thức chatting phổ biến lúc đó, và online radio vào Mukebox. Một chức năng quan trọng khác là Mua Nhạc. Rõ ràng, không thể nào tiếp tục việc chia sẻ nhạc bất hợp pháp. Nhưng với với hàng loạt websites lớn nhỏ cho phép download nhạc tự do, mô hình mua nhạc là hầu như không khả thi. Cuối năm đó, tôi quyết định ngừng phát triển Mukebox để tập trung vào những mục tiêu khác. Phiên bản cuối cùng chưa bao giờ ra mắt. Đó cũng là lúc người ta bắt đầu chán cuộc vui với forums, và chỉ tập trung vào những forum lớn và mạng xã hội. 
  8. Cuối năm 2007, mối quan tâm của tôi về nhạc số được đánh thức trở lại khi tôi được một người bạn gợi ý viết một bài báo tổng hợp về giới nhạc số trước ngưỡng cửa năm 2008 (http://bit.ly/VhMRle ). Đây cũng là dịp tôi đọc được chia sẻ của Steve Jobs về nhạc số (http://www.apple.com/fr/hotnews/thoughtsonmusic/ ). Steve Jobs nhấn mạnh sự kém hiệu quả của các mô hình DRM. Thực tế, những mô hình DRMs chỉ làm giảm quyền tự do của người nghe nhạc, chúng không giải quyết được việc tải nhạc bất hợp pháp. Đó là lí do tôi bắt đầu ngưỡng mộ Steve, không phải vì ông là nhà tư tưởng trong thế giới công nghệ, mà vì ông là nhà tư tưởng trong ngành kinh doanh âm nhạc hiện đại. Thực ra, từ góc nhìn của chính tôi, sự sụp đổ của mô hình DRM chỉ đơn thuần mang lại sự tự do cho người nghe nhạc và sự cạnh tranh tương đối công bằng hơn giữa người bán nhạc số trong môi trường đa thiết bị. Nói cách khác, sự kiện này không dẫn đến sự đột phá. 
  9. Spotify đột phá vì nó mang yếu tố mà tôi gọi là disruption factor. Mô hình Spotify khác hoàn toàn với những gì Rhapsody hay iTunes từng có. Thay vì “selling music”, Spotify đi theo con đường “lending music”. Theo đuổi chiến lược long-tail, Spotify làm cho âm nhạc trở nên hợp túi tiền với số đông dân chúng. Một người bình thường chỉ cần bỏ một số tiền hằng tháng khoảng $9.99 (tương đương mua 1 CD nhạc trong iTunes) là có thể download và nghe hàng triệu bài hát. Cùng với sự phổ biến của broadband, wifi, 4G/LTE, smartphones, Spotify thay đổi cách tôi tải nhạc, nghe nhạc, và tương tác xã hội thông qua âm nhạc chỉ như một chớp mắt. 
  10. Tất nhiên mới mô hình “lending music”, Spotify có những giới hạn nhất định. Cái lớn hơn cả là Spotify thay đổi nhận thức của người nghe nhạc đối với quyền sử dụng nội dung số. Thứ nhất, người nghe nhạc được tự do quyết định mua nhạc dựa trên thông tin đầy đủ nhất về một sản phẩm âm nhạc (được nghe full-length thay vì 30s-sample). Thứ hai, người nghe nhạc hưởng lợi từ variable pricing dựa trên tính linh hoạt về quyền sử dụng nội dung số. Thứ ba, người sở hữu nội dung số không còn đơn thuần kinh doanh nội dung số, mà thực ra họ đang kinh doanh “quyền sử dụng” cho người nghe nhạc. 
  11. Tôi nghĩ rằng đừng quá tập trung vào tính khả thi của một mô hình kinh doanh như Spotify. Nếu quan sát trong một khoảng thời gian đủ dài, ta sẽ thấy điều lớn hơn mà Spotify làm được: Đó là trao cho người nghe quyền lực mà họ xứng đáng phải có.