Category: Social Networks

My Social Networking Thoughts Pt. 3 (Final)

Sau phần 2 của “My SNS Thoughts”, tôi lưỡng lự không biết có nên viết tiếp hay không, và nếu viết thì sẽ phải viết cái gì. Rất may là sau 3 tháng tôi đã có câu trả lời cho phần 3. Tuy đó là một khoảng thời gian quá ngắn và không thể đưa ra một cái nhìn hoàn toàn về sự phát triển của những SNS; nhưng một số sự kiện đáng chú ý trong 3 tháng trở lại đây mà tôi nghĩ rằng chúng rất quan trọng cho hướng đi của những SNS sau này.

Khi vấn đề không còn nằm ở công nghệ


(Ning.com – Với slogan “Create Your Own Social Networks”)

Khi tôi nói: Tạo một SNS bây giờ cũng dễ như tạo một tài khoản Yahoo!. Có thể bạn sẽ nhếch mép cười, nhưng thật sự là bạn hoàn toàn có thể tạo riêng cho mình một SNS với mục đích cá nhân chỉ bằng vài bước đăng ký tại elggspaces.com, ning.com, hoặc tạo ra một mạng blog tại mu.wordpress.org.

Nhưng nếu bạn cần một framework để tạo ra một SNS với mục đích kinh doanh thì cũng có ngay những phần mềm SNS mã nguồn mở như elgg.org, dolphin (http://www.boonex.com/products/dolphin/), hoặc PeopleAggregator.net. Tất nhiên là có đủ những chức năng tối thiểu của một SNS như MySpace và bạn có thể phát triển thêm những chức năng mới.

Khoảng 2 năm trước, khi copy chức năng miniroom của Cyworld vào Forever122, tôi đứng trước 2 lựa chọn: thiết kế bằng Flash hay vẫn dùng DHTML như Cyworld? Tại thời điểm đấy, Flash 7 và AS 2.0 hoàn toàn có thể tạo ra một miniroom đầy đủ chức năng. Nhưng năm 99 thì Cyworld không có được những 2 lựa chọn như thế, họ chỉ có thể chọn 1 là DHTML. Thời điểm đấy, Flash vẫn chỉ mới bước đầu hỗ trợ ActionScript, và VRML đang ở giai đoạn thoái trào. Đó là câu chuyện chật vật về công nghệ của những năm về trước. Còn bây giờ? Chúng ta đang ở trong giai đoạn mà ta gọi là bội thực công nghệ. Chỉ riêng AJAX đã có hơn 10 thư viện khác nhau. Một năm trước, ta có thể trầm trồ trước OpenLaszlo (www.openlaszlo.org), nhưng bây giờ bạn sẽ có thể chọn Adobe Flex 2 với Apollo; nếu không thích thì Adobe vẫn có thể chiều lòng bạn với Flash + AS 3.0; nhưng Microsoft hiện đang kêu gào bạn đến với một Silverlight cách mạng “đa trình duyệt, đa hệ điều hành, tập hợp sức mạnh của hầu hết NNLT .NET và còn có cả Python, Ruby và PHP”. Bạn sẽ chọn công nghệ nào?

Nếu bạn vẫn còn hoài nghi, tôi sẽ cho bạn thêm 2 ví dụ nữa: Đó là SmugMug.com – Một dịch lưu trữ và chia sẻ ảnh tương tự FLICKR. Nhưng SmugMug lại là một dịch vụ có thu phí. Làm sao nó có thể sống được và vẫn sống tốt trong thời buổi này? Khi mà các sản phẩm tương tự đều FREE? Một trong những lí do quan trọng là SmugMug cố gắng giảm chi phí lưu trữ dữ liệu đến mức thấp nhất. SmugMug không có một server-farm mạnh mẽ như Flickr hay YouTube, trái lại, họ chọn Amazon S3 – một dịch vụ nhận lưu trữ dữ liệu giá thấp. Bằng cách đó, SmugMug có thể tiết kiệm được hàng trăm ngàn USD chi phí thiết lập-bảo trì hệ thống data-center của mình. Ví dụ thứ 2 là YouTube & những kẻ ăn theo của nó. Thay vì sử dụng công nghệ nén video đắt tiền như MotionDSP của Youtube, các SNS chia sẻ video ăn theo, đặc biệt là các site Trung Quốc sử dụng công nghệ rẻ tiền hơn dựa trên ffmpeg hoặc các giải pháp nội địa. Trong thời đại thừa mứa công nghệ mã nguồn mở và các đại gia công nghệ choảng nhau ỏm tỏi làm giảm giá bán công nghệ, bạn có thể tin rằng của rẻ không phải là của ôi.

Khi công nghệ chẳng còn là trung tâm nữa, thì việc một sản phẩm mới ra đời, nhất là các sản phẩm ra đời sau, lại càng không thể biện hộ rằng: Sản phẩm của chúng tôi đang ở pha đầu của chu kỳ sản phẩm thế nên thiếu vài ba tính năng cơ bản là điều tất nhiên. Đến lúc đấy lại phải móc thêm tiền đổ vào marketing. Kinh doanh MXH không phải như chuyện bán một cái máy giặt Electrolux và tự huyễn rằng 40 năm sau nó vẫn chạy tốt. Bởi nhẽ tuổi thọ của một sản phẩm Web 2.0 nói chung có mức “kịch trần” là 6-10 năm. Thị phần của Cyworld Hàn Quốc cũng đã đạt đến mức độ bão hòa. Nhưng trong thị trường cạnh tranh khốc liệt và ý tưởng thì không ngừng thay đổi xoành xoạch như thời trang, thật khó mà lạc quan với một sản phẩm web 2.0 dài đến 6-10 năm tại một thị trường duy nhất.

Tôi nghĩ cuộc chơi đầy rủi ro này cũng phần nào khiến các công ty Web 2.0 còn chưa mặn mà với việc “lên sàn”. Khi mà người ta vẫn còn hoài nghi về một vụ “sụp domino” của thời kỳ dotCOM liệu có thể tái diễn với Web2.0 hay không, thì việc tìm đại gia để núp bóng (như YouTube-Google, MySpace-NewsCorp, Cyworld-SKT) có vẻ là giải pháp an toàn hơn, và có lợi cho đôi bên.

Gần đây Cyworld Trung Quốc vừa loan báo một tin vui rằng con số người dùng đã đạt mức 3,5 triệu thành viên. Nhưng Cyworld-fan đừng vội mừng. Thực tế đó là con số đạt được sau 15 tháng hoạt động từ tháng 5/2005 đến 12/2006. Một điều khá mỉa mai là trong khi Trung Quốc đạt mức ~ 150 triệu người sử dụng internet thì đối thủ bản địa của Cyworld – chim cánh cụt QQ – cũng đớp gọn từng ấy người sử dụng dịch vụ IM. Tôi không có số liệu cụ thể về số người sử dụng dịch vụ Qzone của QQ nhưng tôi tin chắc rằng con số đó phải hơn 3,5 triệu rất nhiều. Không phải vì rằng QQ đẹp hơn, giàu tính năng hơn, nhưng QQ có cái lợi thế mà Cyworld TQ không thể có. Lợi thế đó không nằm ở công nghệ.

Ở VN, nếu thiếu 1 hoặc vài chức năng, hoặc có khiếm khuyết trong thiết kế, điều này tôi nghĩ cũng không thực sự to tát đến mức có thể quyết định đến sự sống còn của một SNS. Khi mà 80% người dùng SNS chưa có nhiều kinh nghiệm, và sự khoan dung của người dùng còn cao; thì việc thêm thắt những thứ tiểu tiết chưa phải vấn đề quan trọng. Chỉ có 20% advanced users còn lại mới thực sự xét nét đến 80% những gì mà một SNS có thể cung cấp.

Như vậy, bạn đã thấy rồi đấy, cái trung tâm của một SNS bây giờ là việc nó sẽ phát triển như thế nào dưới bàn tay của những người quản lý, nhất là nó được marketing như thế nào?


SNS = Social Network Service = Sharing N’ Self-defence (Chia sẻ và Tự vệ)

Cuộc đua giữa các SNS không đơn thuần là tranh giành vị thế độc tôn hay nuốt gọn thị trường. Đây là cuộc chơi chia sẻ giữa các SNS. Điều này tôi nghĩ bắt nguồn từ hành vi của một người sử dụng SNS. Một người không nhất thiết dùng độc nhất một SNS, họ có thể là thành viên của nhiều SNS, miễn là họ cảm thấy chi phí (thời gian+tiền bạc) bỏ ra là hợp lý, miễn là SNS có những tính năng đặc biệt thu hút họ. Chẳng hạn như một thành viên MySpace cũng có thể tự do sử dụng Cyworld hoặc Facebook. Nhưng tự vệ cũng rất quan trọng. Chẳng hạn như việc MySpace khóa những video từ Photobucket vậy.

Lợi thế của một SNS?

Tôi biết là có rất nhiều người muốn tham vọng tạo ra một SNS mạnh nhất VN. Nhưng một tham vọng không có cơ sở thì không khác gì “daydreaming”. Thậm chí, khi đã tham gia cuộc chơi, người chơi vẫn có thể bị lóa mắt bởi chiến thắng ban đầu hoặc sự tham gia quá dễ dàng. Hơn bao giờ hết, câu hỏi “Lợi thế của một SNS là gì” càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Như tôi đã nhắc ở trên: QQ thắng Cyworld ở Trung Quốc không phải là lợi thế công nghệ, mà là QQ có điều kiện tham gia cuộc chơi trước. Tôi đã có dịp thử dùng Qzone, quả thật phải nói là QQ không chỉ may mắn là kẻ đến trước mà còn là người biết nghĩ. Khi Cyworld vẫn còn beta-testing ở TQ thì QQ đã thay đổi minihome của họ sáng tạo hơn hẳn rất nhiều. Thú thật, mặc dù ngưỡng mộ Cyworld nhưng tôi thích Qzone (http://qzone.qq.com/) của QQ hơn.

Hãy nói về Việt Nam một chút.

Xét về clip.vn chẳng hạn, tôi không rõ câu slogan “Sharing happy moment” là do họ nghĩ ra một cách vô thức hay có ý thức. Nhưng câu slogan này gần gũi hơn với nhóm người sử dụng thích ghi lại những đoạn clip ngắn về bản thân, bạn bè, người yêu hay gia đình; rõ ràng là phù hợp với đặc điểm người VN. Hơn là hướng đến nhóm người sử dụng UCC (user created content) và nhóm người dùng vãng lai. Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu clip.vn tập trung vào nhóm người dùng này.

Bên cạnh Yahoo!360, SNS có tính năng “hướng blogging” made in VN mà tôi ấn tượng nhất chính là mạng www.thehetre.vn. Hình thức của THT khá bài bản, có linh vật đại diện, tên hiệu cũng bao quát khá rộng. Giao diện gợi nhớ Opera, các chức năng blog chủ yếu đều có, và nhất là người dùng có thể kiểm soát thông tin cá nhân của mình khá chi tiết. www.thehetre.vn phù hợp cho cả đối tượng blog theo phong cách journal và diary. Điều không được ổn là cho đến nay www.thehetre.vn vẫn chưa có động thái quảng bá nào cụ thể. YBB thì giỏi phô trương thanh thế nhưng đặc điểm dịch vụ thì lại khá là mơ hồ. Điều này cũng dễ hiểu, bởi cả hai sản phẩm này đều xếp vào loại “sản phẩm sao chép”, mơ hồ trong việc xác định đâu là đối tượng của đối thủ và ngay cả đối với sản phẩm của mình. YBB có một lợi thế là cho phép người chơi những trò do VinaGame phát hành được đăng nhập bằng game account. Với tính năng này, tôi nghĩ YBB có thể tin tưởng là họ có thể thu hút được nhiều thành viên hơn.

Một điểm bất lợi của các SNS VN là đã để 360 đi quá sâu vào tâm trí người dùng. Bạn có thể chiếm đoạt thể xác, nhưng không thể lấy đi phần hồn. “Phần hồn” trong một SNS chính là những mối quan hệ. Đây không còn là thời đại của những ông mai bà mối và do đó càng sai lầm hơn nữa nếu một SNS “cố ép” người dùng tự tạo những mối quan hệ trong một môi trường mới. Không rõ là các dự án SNS ở VN trước khi triển khai thì đã có hoạt động thăm dò thị trường nào chưa, chứ tôi thì cảm thấy họ đang làm theo kiểu “vừa đi vừa dò”. Quả thật, đây không phải là một cách làm thông minh.

Localization – Đừng gieo hạt nhầm nơi

Mặc dù không chơi game nhưng tôi rất thích cái cách VinaGame Việt hóa các sản phẩm game của nước ngoài, gần như không có cảm giác đó là các game của Trung Quốc hay Hàn Quốc, mà thật sự rất Việt Nam. Cyworld VN cũng rất thành công khi biến từ “Gwansim Ilchon” trong Cyworld HQ thành “hàng xóm” với 4 thuộc tính: vừa lạ trong một SNS, vừa lại rất quen thuộc với người VN, vừa nghe vui vui thân thiện, vừa có tính đề cao cá nhân.

Yahoo! VN mang đến một Y!360 Việt Nam thì không hoàn toàn chỉ nghĩ đơn giản như một tay mơ rằng nó sẽ được Việt hóa giao diện, hoặc có dàn server đặt ngay tại VN vì thế sẽ nhanh hơn. Chẳng phải đâu, Cyworld Việt Nam được xây dựng bởi chính những cái đầu Việt, tinh thần Việt, không khác những game Võ Lâm Truyền Kỳ hay Con Đường Tơ Lụa. Y!360 cũng vậy thôi. Một ngày đẹp trời không xa lắm, Y!360 mỉm cười thân thiện với một chất giọng đặc sệt Việt Nam: “Tôi không chỉ mang đến cho bạn YIM Việt, một 360 đậm chất Việt mà còn cả một cộng đồng Việt, một 360 sạch sẽ không có những bài phản động, tệ nạn và 360 sẽ tuân thủ luật pháp VN, và đầy những hoạt động offline hấp dẫn“. Liệu bạn có trở lại không??? Đây là một giai đoạn khác, một giai đoạn mà khó ai còn giữ quan niệm ấu trĩ về một anh ngoại quốc đi gieo hạt nhầm nơi. Do đó không cần thiết phải đặt nặng vấn đề đó là một sản phẩm nước ngoài hay không. Bởi ai chiến thắng cũng xứng đáng cả.

(Sự xuất hiện của Y!360 trên website VietnamIdol sẽ báo hiệu điều gì?)

(Sau Trung Quốc, sẽ là Việt Nam?)

Tổng hợp lại một số phân tích trong cả 3 bài viết, tôi nghĩ một SNS sẽ có 4 giai đoạn phát triển và có thể khái quát như thế này (theo quan điểm chủ quan của tôi). Thực tế, không hẳn một SNS phải trải qua cả 4 giai đoạn, và thậm chí các giai đoạn có thể nằm chồng chéo lên nhau.

1) Thời kỳ đơn chức năng (hoặc chỉ tồn tại những chức năng tối thiểu)
Đây là thời kỳ sơ khai của SNS, một SNS chỉ tập trung vào những tính năng tối thiểu và cơ bản dựa trên hạ tầng sẵn có của mình.

2) Thời kỳ đa chức năng (có sự tham gia của dịch vụ ngoài)
Đây là thời kỳ mà một SNS tận dụng các chức năng của những dịch vụ ngoài để bù đắp cho sự thiếu hụt trong sản phẩm của mình. Đây cũng là giai đoạn mà có thể tóm gọn lại bằng công thức: SNS + Các nhà cung cấp dịch vụ ngoài = Thay đổi thói quen sử dụng internet của thành viên.

Chẳng hạn cộng đồng Ebay hoặc MySpace đã sử dụng Photobucket, Imageshack lưu trữ ảnh, sử dụng Slide.com để tạo slide, Youtube lưu trữ video và những dịch vụ ăn theo khác. Người sử dụng không chỉ đơn thuần sử dụng MySpace để duy trì quan hệ, mà còn phát sinh nhu cầu chia sẻ và thể hiện bản thân, cập nhật thông tin và đời sống bản thân nhanh, tiện lợi cũng như tối tân đến mức có thể.

3) Thời kỳ đa chức năng (loại bỏ sự ảnh hưởng của dịch vụ ngoài)
Đây là thời kỳ một SNS sẽ bắt đầu loại bỏ dần dần sự phụ thuộc vào các dịch vụ ngoài (thông qua quá trình đa dạng hóa dịch vụ mà tôi đã đề cập ), một SNS sẽ bắt tay xây dựng những giá trị mới hướng đến thành viên. Bởi đa dạng hóa dịch vụ trong SNS là cách để tồn tại lâu dài, thể hiện chiến lược lâu dài của nó.

MySpace đã bắt đầu chặn những video từ Photobucket. Và trong thời gian đến, không rõ là họ sẽ âm thầm chặn dịch vụ nào khi các tính năng của MySpace được hoàn thiện. Cũng như vậy với Photobucket, từ chia sẻ ảnh, họ đã có thêm slide, video sharing để giữ chân người dùng. Việc MySpace chặn video của Photobucket cũng không phải là một vấn đề lớn (vì người dùng MySpace chủ yếu sử dụng dịch vụ chia sẻ ảnh của Photobucket).

Cyworld thì thậm chí còn không cho người dùng embed Flash vào minihome, do đó muốn chia sẻ slide hoặc video, nghe nhạc đều phải thông qua các dịch vụ của Cyworld. QQ ban đầu còn cho phép người dùng hot-linking các file nhạc từ nơi khác, nhưng từ khi có QQ Music (http://music.qq.com) thì tiệt hẳn.

Đây là lúc mà các SNS bắt tay tạo giá trị cho thành viên, không chỉ mang đến cho họ ích lợi mà còn là công cụ để các thành viên tự phát triển SNS thành một trung tâm truyền thông xã hội.

4) Thời kỳ chuyển mình thành một trung tâm truyền thông xã hội (Social Media Center)
Vào thời kỳ này, một SNS sẽ trở thành một SMC. Thực tế, trong những giai đoạn trước, một SNS đã tồn tại những tính chất cơ bản của truyền thông xã hội (như: tính mở, tính tham gia, tính đối thoại, tính kết nối, tính cộng đồng). Thực ra, ý của tôi muốn nhấn mạnh ở đây là quyền lực, sự ảnh hưởng của một SNS đến đời sống trong thế giới thực.

Theo dõi YouTube hoặc MySpace, bạn có thể thấy là tình hình Iraq được cập nhật còn nhanh hơn CNN. Các chính trị gia của Mỹ đã sử dụng MySpace/YouTube làm công cụ hỗ trợ các cuộc tranh cử.
Ảnh hưởng chính trị của Cyworld Hàn Quốc cũng rất đáng kể ngay từ năm 1999-2000:
+ Chính phủ HQ đã phải ban hành Luật tài chính điện tử để quản lý hoạt động của những đồng tiền ảo. Mà trong đó, đồng Dotori của Cyworld (Ở Cyworld Việt Nam gọi là ACORN) là một trong những đồng tiền ảo mạnh nhất trong thế giới số ở HQ.
+ Sự sinh sôi nảy nở những diễn đàn chính trị và CLB nhà lãnh đạo trẻ ở HQ, mà CLB YLP (youngleadership.cyworld.com), Trung tâm công nhân di trú Suwon (smwc.cyworld.com) ở Cyworld là một số ví dụ.
+ Sự tham gia của các chính trị gia vào Cyworld để thu hút sự ủng hộ của giới trẻ. Cyworld cũng đã tạo riêng một thư mục chuyên giới thiệu những minihompy của các chính trị gia có đăng ký tài khoản trên CyworldHQ.

Thành thật mà nói, những SNS như MySpace giờ đây không còn đơn thuần là sân chơi nữa rồi. Ngay đến cả một giao diện “chíp hôi, trẻ con” như Cyworld cũng đã thấy lấp ló cái bóng chính trị.

Đằng sau sự thành công của một Mạng Xã hội

Khi Mạng Xã hội (MXH) hay còn gọi là MXH trực tuyến được xem như là một đại diện tiêu biểu cho Web 2.0 về mặt tiện ích và sức hấp dẫn người dùng, người ta cũng ghi nhận con số MXH trên toàn thế giới đã lên đến 200 và số mạng được xem là thành công chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Sau”Mạng Xã hội: Những điều trông thấy” (đăng trên Thế giới @ số 169), bài viết Đằng sau sự thành công của một Mạng Xã hội kỳ này sẽ giúp bạn hiểu thêm về những lý do tại sao một MXH thành công.

Nhấn mạnh liên kết giữa người dùng

Trước khi cơn sốt MySpace bùng phát năm 2005, thế giới từng được biết đến những website như Classmate.com (năm 1995), sau đó là Six Degrees.com, Ciao.com, Friendster(2002), BlackPlanet, Xanga…. Các website này nhanh chóng rơi vào bế tắc vì chỉ tập trung vào một mục đích nhất định như Classmate chỉ để tìm bạn học cũ, không tạo thành liên kết xã hội như Xanga, hoặc chỉ thuộc về các cộng đồng nhỏ như BlackPlanet ban đầu là website tạo nhóm, hỗ trợ tán gẫu trực tuyến dành cho người da màu.

MySpace với mục tiêu nhấn mạnh tính liên kết giữa người dùng, phục vụ đa mục đích, đa tiện ích, mở rộng cho tất cả mọi người và có nhiều phiên bản địa phương hóa đã tạo nên một hiện tượng của MXH toàn cầu. Tiếp nối MySpace là Orkut và Facebook. Cả hai đều có chức năng quản lý quan hệ người dùng tốt, an toàn và tính mở rộng (API của Facebook) hơn hẳn MySpace. Nhưng MySpace hiện vẫn dẫn đầu với số người truy cập cao hơn cả Google.  Tổng số người dùng theo thống kê của bách khoa toàn thư Wikipedia lần lượt là: Orkut (57 triệu), Hi5 (50 triệu), Facebook (34 triệu), cả ba gom lại cũng chỉ bằng 141 triệu so với 182 triệu của MySpace (en.wikipedia.org/wiki/List_of_social_networking_websites).

Cộng hưởng từ thương hiệu quốc gia

Trước khi Cyworld sang Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam (sắp đến là Đức), tên tuổi của MXH hàng đầu Hàn Quốc này đã được khuếch trương bằng tên tuổi thành công của Hàn Quốc trong lĩnh vực công nghệ cao và hiện tượng “làn sóng văn hóa Hàn” (phim Hàn, thời trang Hàn, mỹ phẩm Hàn…). Nhưng nếu nói rằng, nhấn mạnh vào liên kết giữa người dùng – một trong hai thành tố quan trọng nhất để hình thành MXH, sự cộng hưởng từ thương hiệu quốc gia được xem là một cơ hội hơn là lý do dẫn đến thành công.

Vì về lâu dài hoặc xâm nhập vào một thị trường mà người sử dụng còn thiếu thông tin, hay không phù hợp thì yếu tố cộng hưởng khó có thể vận dụng.

Theo đuổi khuynh hướng, không ngừng mở rộng

MySpace là một MXH theo đuổi khuynh hướng điển hình. MySpace hiện nay không chỉ bao gồm blog và group, mà còn là một cửa hàng nhạc số, dịch vụ chia sẻ video và cả messenger (chương trình tán gẫu trực tuyến). Cyworld phiên bản Hàn Quốc đã hỗ trợ hầu hết các dịch vụ này. Nếu 10 năm trước có hiện tượng các web portal tích hợp all in one, đến lượt các MXH ngày nay tiếp bước mô hình all in one. Hãng Apple gần đây đã thay đổi cấu trúc website SpyMac.com thành một MXH. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu bạn nghe Apple tuyên bố sẽ tích hợp iTunes, iPhone và những sản phẩm có tiền tố i khác trong tương lai vào SpyMac.com.

Tình cảm là vũ khí lợi hại

Có thể nói rằng một trong những lý do để Yahoo! 360º phổ biến hơn tại Việt Nam là nhờ vào những hiện tượng như blog của chàng Joe người Canada sử dụng tiếng Việt tài tình, bài viết “F***ing Hà Lội” gây nhiều tranh cãi của blogger Bé Crys, blog của Trần Tuyên về sự dũng cảm, ý chí cao độ chống chọi lại căn bệnh ung thư hiểm nghèo, và rất nhiều những cuộc vận động từ thiện và các chương trình cộng đồng khác. Đây có thể xem là những cú “hích” quảng bá tích cực cho sản phẩm Yahoo! 360º tại Việt Nam.

Bài học phân khúc thị trường

MySpace hướng đến người dùng trọng tâm là học sinh – sinh viên yêu thích sự tự do. Vì vậy, giao diện, chức năng đăng ký thành viên… rất đơn giản. Các chức năng không quá phức tạp, khả năng can thiệp cao dẫn đến việc kích thích sự sáng tạo của người dùng. Do vậy, khi nhắc đến MySpace thì không thể không nhắc đến tính chất 3 dễ:  Dễ tùy biến, dễ đăng ký, dễ kết nối.

Hãy mở một minihome và hãy cho biết ấn tượng đầu tiên của bạn? Đa phần câu trả lời là “dễ thương, vui nhộn, ngồ ngộ”. Tôi cho rằng khách hàng trọng tâm của Cyworld là thế hệ trẻ từ 18 – 29 tuổi, trong đó có một phần không nhỏ là giới nữ. Do đó, chức năng thiết kế hompy của Cyworld chỉ đơn giản như việc mua item và dùng. Các item được thiết kế hết sức bắt mắt nhằm phục vụ cho nhu cầu thể hiện “cái tôi” thông qua thế giới vui nhộn như một bộ phim hoạt hình, tách biệt khỏi những căng thẳng của cuộc sống hằng ngày.

Trong khi đó, các MXH như Nexopia, Facebook, Bebo hay Hi5 chọn cách không cạnh tranh trực diện với MySpace mà lại hướng về những phân khúc thị trường mà MySpace chưa vươn đến hoặc những tính năng mà MySpace bỏ qua hoặc không nhấn mạnh. Nexopia đặt trọng tâm là người dùng Canada. Yahoo! 360o hướng về người dùng Yahoo! hiện tại. BlackPlanet hướng đến cộng đồng da màu. Xanga phổ biến ở Đông Nam Á. Facebook và Orkut nhấn mạnh tính riêng tư, an toàn và tính mở rộng cho thành viên cùng các hãng thứ ba.

Yahoo! 360o rất thông dụng tại Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) nhờ vào số lượng thành viên đông đảo và mục tiêu hướng đến việc trở thành một dịch vụ giá trị gia tăng cho người dùng hiện tại của Yahoo!. Yahoo! 360º là một ví dụ. Thực chất, đây chỉ là một dịch vụ bổ sung vào tập hợp các dịch vụ sẵn có, và mở rộng thêm không gian quảng cáo trực tuyến của Yahoo!. Yahoo! 360o được dùng để thay thế cho My Yahoo! và Yahoo! Profiles. Dịch vụ này mang lại cho người dùng tính năng của một MXH thông thường có tích hợp messenger, ngoài ra còn là nơi tập trung những nguồn thông tin mà người dùng Yahoo! muốn chia sẻ (Flickr, Yahoo! Answer, Reviews, Groups…). Do đó, nhắc đến Yahoo! 360o phải nhắc đến sự thành công về mặt tiện lợi cho người dùng Yahoo!.

Được này, mất kia

Rất nhiều người như tôi sẽ sẵn sàng chấp nhận chức năng blog hạn chế, giao diện đơn giản của Yahoo! 360o để đổi lấy khả năng tích hợp với messenger, với friendlist hiện tại. Và MXH cũng hành động tương tự  như người dùng vậy.

Tại Hàn Quốc, Cyworld tập trung vào minihompy, trong khi Daum hay Naver đang chinh phục mảng blog. Hiện nay, mặc dù Cyworld đã mở rộng một sản phẩm blog dưới tên dịch vụ Cyworld Paper và Daum cũng phát triển một dịch vụ tương tự hompy là Daum Planet nhưng những dịch vụ phát triển sau này đều không đạt thành công tương tự. Để đạt thành công rực rỡ cho dịch vụ hompy, Cyworld cũng phải hi sinh một sản phẩm và thị trường khá béo bở vào tay Daum và Naver.

Sáng tạo không ngừng…

Cyworld không phải là dịch vụ minihompy đầu tiên của Hàn Quốc. Trước Cyworld, Freechal đã triển khai dịch vụ hompy. Tuy nhiên, khi Freechal chính thức thu phí người dùng thì Cyworld đã có chiến lược mới như miễn phí dịch vụ hằng tháng, lưu trữ ảnh không giới hạn,  tích hợp dịch vụ với ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động lớn nhất của Hàn Quốc: SK Telecom, KTF và LG Telecom, cổng điện tử Nate.com., mua item dưới dạng acorn (hạt dẻ) và thiết kế lại giao diện và các tính năng theo yêu cầu của người dùng.

Như vậy, Cyworld không hẳn đưa ra một sản phẩm mới hoàn toàn mà cải tiến dịch vụ dựa trên những cái có sẵn để tạo nên một tổ hợp sản phẩm và dịch vụ đi kèm rất mới. Chính vì vậy, chỉ trong một năm, Cyworld đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường minihompy tại Hàn Quốc.

… và cũng gặp thất bại

Tuy nhiên, không phải sự phát triển của MXH nào cũng thành công. Xét trường hợp Cyworld Trung Quốc đang phải chật vật trước “con chim cánh cụt” QQ (một MXH với tính năng minihome của Trung Quốc) vì nhiều lý do. Nhưng một lý do rất quan trọng là QQ đã có sẵn một lượng rất lớn thành viên Trung Quốc nhờ vào sự phổ biến của chương trình tán gẫu QQ Messenger. Ngay cả khi “ăn theo” một MXH nào đó thì mọi việc vẫn không trở nên dễ dàng hơn. Rất nhiều MXH của Trung Quốc “sao chép” hiện tượng YouTube hiện vẫn đang luẩn quẩn trong tình trạng cạnh tranh lẫn nhau tại thị trường trong nước. Hầu như không tìm thấy cánh cửa để bước chân ra thị trường thế giới.

Trong năm nay, theo tôi, Yahoo! 360o vẫn là dịch vụ MXH và blog phổ biến nhất ở Việt Nam. Trong khi đó, Cyworld Việt Nam sẽ chinh phục mảng thị trường minihome. Mỗi sân chơi có đều có những điểm thú vị riêng, chắc chắn sẽ không làm người sử dụng phải phân vân khi quyết định sử dụng cả hai. Nhưng bất kỳ nỗ lực nào muốn tạo nên một sự đột phá tại thị trường MXH Việt Nam sẽ vấp phải nhiều khó khăn nếu không có sự chuẩn bị và đầu tư kỹ lưỡng, định hướng lâu dài cho sản phẩm của mình. Bởi thời hoàng kim của một dịch vụ MXH hiện nay vẫn chưa vượt quá con số 5 năm và tuổi thọ chưa quá 10 năm.

Bản gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-U6QAhko4eqtfCaxkBnTxxSSQrJm1?p=1659

Mạng xã hội – Những điều trông thấy

Năm 2002, tôi bắt đầu biết đến cái gọi là blog tại một website của Hàn Quốc là MYM.net (hiện nay đã đóng cửa) và Cyworld. Blog đối với tôi lúc đó chỉ đơn giản là một tập nháp tương tự chức năng Google Notebook.

Năm 2003, khi coding (viết mã) Forever122 dành làm nơi tụ họp và “bù khú” của các bạn học cấp III, tôi không ý thức rằng mình đã chịu ảnh hưởng của hai website trên để tạo ra một cái mà gần như là một mạng xã hội. Ngày nay, blog và mạng xã hội (MXH) đã trở nên quá quen thuộc với cộng đồng xã hội. Nhưng đối với tôi- một lập trình viên PHP tay ngang- sự khao khát về một trong những cái mình ấp ủ vẫn luôn còn đó: Một mạng xã hội của chính tôi. Bài viết dưới đây không phải để nói về những ý tưởng mới cho một MXH, mà chỉ tóm lược lại quá trình suy nghĩ của tôi khi phát triển Forever122, chỉ nói về những điều mà một MXH lý tưởng của tôi tất yếu phải có.

MXH hướng đến ai?

MXH chẳng hướng đến ai cả. MXH cũng không hướng đến tính chất cộng đồng. MXH phải hướng đến “cái tôi”. Chính nhu cầu thể hiện “cái tôi” sẽ dẫn dắt các cá nhân tự xích lại gần nhau và hình thành nên cộng đồng.

“Cái tôi” trên cơ sở lợi ích đồng đều

Khi xây dựng danh sách các tính năng (feature list) cho một MXH, tôi cho rằng mình chưa cần phải lắng nghe những khách hàng tiềm năng của tôi cần gì, đó chỉ là điều thứ hai. Điều quan trọng nhất là mỗi tính năng phải trả lời rõ ràng cho câu hỏi: Với tính năng đó, cơ hội để thể hiện bản thân của cá nhân là bao nhiêu? Những ví dụ dễ hình dung cho câu hỏi này là:

+ Chức năng page view.

+ Chức năng xác định giá trị cho homepage.

+ Bảng xếp hạng người dùng theo từng tiêu chí khác nhau.

+ Tài sản ảo.

+ Chức năng tùy biến theme.

Như vậy, tôi có thể nói rằng: Trong một MXH, “số 1” không phải là một người, mà là nhiều người.

Nhu cầu thể hiện “cái tôi” sẽ dẫn dắt mọi người lại gần nhau trong MXH
Mới, hoàn toàn mới hay tốt hơn?

Nếu sao chép tính năng là tệ hại thì cái suy nghĩ “mới phải là mới hoàn toàn” cũng không sáng sủa hơn. Điểm chưa hay của Yahoo! 360º, theo tôi là ngoài tính năng Friend Network và tích hợp Yahoo! Messenger thì không có một tính năng nào thực sự nổi trội. Khi nghiên cứu các MXH và blog của phương Tây và của các quốc gia khác như Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, tôi nhận thấy các dịch vụ của bộ ba Hàn-Trung-Nhật quan tâm rất kỹ đến từng chi tiết nhỏ nhất và thường xuyên thay đổi. Trong khi đó, các dịch vụ do phương Tây phát triển chỉ thực sự cung cấp những tính năng cơ bản và ít thay đổi, có chăng chỉ là những tính năng lớn (chẳng hạn: Phát triển messenger riêng cho MySpace, xây dựng dịch vụ nhạc số…). Do đó, tôi nghĩ nếu mình xây dựng một tính năng đã tồn tại ở dịch vụ khác rồi, thì phải xác định mình cần làm tốt hơn họ.

Một ví dụ về chức năng Tagcloud: Giá như khi tôi nhấn chuột phải lên một tag bất kỳ, một menu ngữ cảnh sẽ xuất hiện và hiển thị những thông tin về tag đó, chẳng hạn như số bài viết có tag này, 5 hay 10 tiêu đề mới nhất có tag này, hoặc tích hợp Google khi tôi muốn tìm kiếm với keyword là tag đó… Như thế sẽ tiện hơn rất nhiều cho những người thường xuyên đọc blog.

Tất cả trong một

Bạn muốn tạo slide ảnh? Đến http://www.slide.com, chọn từng tấm ảnh mà bạn đã upload lên Photobucket hoặc Flickr (vì bạn không muốn upload lên Slide.com), rồi sau đó phải copy-paste đoạn mã HTML vào Yahoo! 360º hoặc MySpace. Nếu muốn upload nhạc hoặc video, bạn cũng phải làm tương tự.  Theo tôi, đã đến lúc chấm dứt những việc không cần thiết đấy. Hãy xét ví dụ của QQ Tencent hoặc Cyworld: MXH của họ đều tích hợp sẵn trình tạo slide với photo manager. Cyworld hoặc dịch vụ Daum Planet sớm tích hợp chức năng Scrapbook vào những trang tin điện tử lớn trong hầu hết những dịch vụ của mình. Vì họ nhận ra nhu cầu trích dẫn thông tin là rất lớn trong một MXH. Tích hợp thêm thanh toán điện tử hay tài khoản game online cũng trở nên phổ biến với những MXH như HanGame.

Liên kết để tồn tại

Nếu muốn người ta sang sông, thì bạn phải bắc cầu. Thứ nhất, nếu muốn lôi kéo khách hàng từ Yahoo! 360º sang MXH của tôi, vấn đề quan trọng nhất là làm sao vận chuyển được “tài sản” của họ (dữ liệu, mối quan hệ…) sang MXH này. Mối liên kết thứ hai là giữa một MXH với những dịch vụ không phải là đối thủ cạnh tranh. Liên kết thứ ba là giữa nhà cung cấp MXH và khách hàng. Vậy khách hàng là ai? Dường như câu trả lời tốt nhất mà tôi có thể nghe được là thanh thiếu niên Việt Nam. Tôi nghĩ thanh thiếu niên Việt Nam thì vẫn còn mơ hồ quá. Thử xem xét một số dịch vụ: BlackPlanet hướng đến người da màu, Nexopia tập trung vào thị trường Canada… Như vậy, điều tôi thắc mắc rằng là MXH của tôi nhắm đến đối tượng nào, và chiếm bao nhiêu phần trăm trong tập hợp thanh thiếu niên Việt Nam?

Nghĩ ngược để chiến thắng

Trong phần lớn các thảo luận của bạn bè tôi, khá nhiều ý kiến cho rằng một MXH “made in Việt Nam” 100% khó (và hầu như không thể) đánh bại Yahoo! 360º ở khả năng tích hợp vào Yahoo! Messenger, và rằng nhiều người phải “hy sinh” những tính năng để sử dụng tích hợp. Vậy đứng ở góc độ người sử dụng, sự “hy sinh” có thật sự hoàn toàn thoải mái hay không?

Tại sao không đặt câu hỏi ngược lại: Việc gì tôi phải để những khách hàng “hy sinh” tính năng tích hợp khi đến với dịch vụ của tôi? Nếu thực sự muốn lôi kéo thì mình phải chứng minh được người sử dụng chẳng mất gì, mà có khi lại được. Trở lại ví dụ về tính năng tích hợp tôi đã nói ở trên, có một số giải pháp tôi nghĩ có thể khắc phục được:

1. Tích hợp MXH của tôi vào Yahoo! Messenger: Tại sao không thể một khi Yahoo! Messenger có hỗ trợ chức năng plug-in và cung cấp hẳn API? Không chỉ có Yahoo! Messenger mà ngay cả Windows Live Messenger cũng hỗ trợ API để xây dựng plug-in.

2. Tự xây dựng hẳn một client riêng: Với chuẩn Open IM Jabber mã nguồn mở (Google Talk cũng dựa trên Jabber), tôi nghĩ những lập trình viên Việt Nam sẽ không quá khó khăn khi phát triển một instant messenger riêng dựa trên Jabber. Và cơ hội tạo ra một instant messenger tích hợp “all in one” là khá cao (Jabber đều đã hỗ trợ “cầu” giao tiếp với AIM, MSN và YIM). Do đó, khả năng tiếp cận không phải là không có.

3. Xây dựng dịch vụ giá trị gia tăng cho client: Đối với MXH, client là rất cần thiết. Vì vậy, MXH không chỉ cần instant messenger mà phải có cả những tính năng khác như quản lý hình ảnh, đồng bộ thông tin và nhất là kết nối với di động thông qua PC. Mô hình này Cyworld Hàn Quốc và QQ Tencent của Trung Quốc đã làm rất thành công.

Kinh doanh trong MXH

Ở đây tôi không bàn qua vấn đề kinh doanh giữa nhà cung cấp và người sử dụng. Tôi muốn bàn đến kinh doanh giữa user-user. “Nếu anh không thể săn bắn cho họ thì hãy cho họ công cụ”, câu này đúng với trường hợp của Live Spaces khi cho phép người dùng tùy biến homepage của họ bằng Gadgets API. “Nếu họ săn bắn được hãy cho họ trao đổi”, nếu nhà cung cấp có thể bán cho user từ theme cho đến từng biểu tượng bài viết thì không có lý do gì mà không tạo cơ hội để họ trao đổi những sản phẩm do chính họ thiết kế.

Ubiquitous

Một trong những từ mà tôi bắt gặp nhiều nhất khi dạo qua các website viễn thông của Hàn Quốc chính là từ “ubiquitous” (ở đâu cũng có). Có thể nói rằng tính chất “ubiquitous” của một MXH thể hiện ở việc người dùng kết nối đến MXH đó dễ dàng như thế nào. Nếu 2006 là năm của YOU(tube) thì năm 2007 rất có khả năng giải trí di động sẽ lên ngôi. Tôi tin rằng một MXH tốt thì không thể thiếu khả năng tương tác với điện thoại di động.

Thời gian không chờ chúng ta

Cyworld – một “sao” trong không gian số của giới trẻ Hàn Quốc đã đăng ký domain http://www.cyworld.vn từ tháng 3-2006 và bây giờ đang trong giai đoạn Open Beta tại vn.cyworld.com. Rất nhiều khả năng Cyworld Việt Nam sẽ liên kết chặt chẽ với S-Fone (S-Telecom) để cho ra đời một MXH không chỉ trên PC mà còn cả ở điện thoại di động. Đối với thị trường Việt Nam, Cyworld thực sự mới và lạ. Bên cạnh đó, còn có cả dự án bản địa hóa của Windows Live và MSN.

Cyworld đã có mặt tại Việt Nam

Kẻ mạnh chỉ thật sự mạnh khi bước chân lên sàn đấu, trong khi tôi và bạn đang mải mê nhìn về nước Mỹ với hàng loạt MySpace, Blogger, Friendster, Facebook… thì sau lưng chúng ta đã có rất nhiều đối thủ nặng ký khác ngay trên “sân nhà” Việt Nam. Họ có lợi điểm của họ và chúng ta cũng có lợi điểm của chúng ta, quan trọng là ai sẽ đi đúng nước cờ mà thôi.

Bản gốc: http://blog.360.yahoo.com/blog-U6QAhko4eqtfCaxkBnTxxSSQrJm1?p=1614

Tám về Sina Weibo, Twitter, và Google+

  1. Google+ ra mắt, tôi đã nhận xét nó giống mô hình của Weibo hơn là Twitter.
  2. Trước khi Facebook giới thiệu giao diện profile mới vào ngày 21/9, Sina Weibo đã thử nghiệm giao diện mới. Điều trùng hợp là rất giống giao diện của Google+ & Facebook.
  3. Thời gian ở Bangkok, mỗi ngày ngồi metro, skytrain; cứ giờ tan tầm là tàu điện chật ních những người trẻ. Không ai nói với ai câu nào, tất cả chỉ là sự im lặng tập trung vào màn hình điện thoại.

    Cuộc sống trên đường phố của những người Thái trẻ là Facebook, Twitter, Whatsapp, Blackberry, iPhone, Android.

    Yahoo hay Nokia chỉ là những cái tên của quá khứ. Ngay cả MSN Messenger phổ biến một thời, nay chỉ dùng để chat tại gia.

  4. Khi sang Hongkong, Shenzhen một thời gian ngắn, cuộc sống trên tàu điện và đường phố của những người trẻ cũng cắm mặt vào màn hình không khác nhiều ở Bangkok.

    Điều khác dễ thấy là người trẻ Trung Quốc dùng QQ, Renren, Weibo trên iPhone, Android, Blackberry. Ở coffeehouse hoặc food court, nơi có wifi miễn phí, đôi lúc thấy họ dùng PPLive hoặc QQLive – những chương trình xem TV trực tuyến bằng công nghệ P2P rất phổ biến ở Trung Quốc.

    Mức độ ứng dụng công nghệ của những người trẻ Trung Quốc nhanh đến mức đáng kinh ngạc.

  5. Năm 2007, ở Trung Quốc, rất nhiều clones của những dịch vụ nổi tiếng ở Hoa Kỳ và Hàn Quốc.

    Năm 2010, người Trung Quốc bắt đầu tạo ra bản sắc riêng. Vẫn có clones, nhưng mô hình thì của riêng họ.

    Có phải sức ảnh hưởng quá lớn của công nghệ Trung Quốc đến mức tạo cho tôi cảm giác Google+ giống Weibo hơn là Twitter? Nếu đúng thì mô hình Sina Weibo có gì hay?

  6. Giá trị của Sina Weibo đến từ sự độc lập. Thương hiệu Weibo tách rời khỏi các web-services khác của Sina, nó không đi theo kiểu “all-in-one” như QQ đã làm với QQ Weibo.
  7. Sina Weibo là ecosystem có kiểm soát.

    Apps của Twitter được phát triển bởi các hãng thứ ba.

    Appstore của Sina Weibo bao gồm apps & games: từ các dịch vụ của Sina (music, shopping, news, radio); và 3rd-parties apps được cho phép.

    Ecosystem của Sina Weibo chính xác là cái mà Google+ sẽ trở thành.

  8. Ở Hoa Kì, người ta giành lấy từng hành vi tiêu dùng của khách hàng. Ở Trung Quốc, người ta giành lấy từng giây thời gian tiêu dùng của khách hàng.

    Đó là lí do vì sao Facebook tích hợp.
    Đó là lí do vì sao Google đẻ ra Google+.
    Đó là lí do vì sao Sina Weibo có gần như mọi ứng dụng để khách hàng khỏi phải chạy sang QQ.

     Thời gian là vàng!

  9. Văn hoá “Mục lục web”.

    Ai còn nhớ Yahoo Directory những năm 97-99? Nhưng ở những nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan thì mục lục web vẫn tồn tại.

    Twitter – Chủ đề thể hiện bằng #hashtags, tất cả đều ngang nhau, không thứ bậc trật tự; chỉ khác ở mức độ quan tâm.

    Weibo – Chủ đề thể hiện mọi chủ đề theo “mục lục web”, có trật tự thứ bậc, trên dưới; mà vẫn thể hiện được mức độ quan tâm ở mỗi chủ đề.

    Đó là sự khác nhau giữa hỗn độn và ngăn nắp.

  10. Nếu phải so sánh hình thức giữa một “tweet” và một “weibo”, tôi có thể nói ngắn gọn: Twitter là SMS; và Sina Weibo là MMS.

    Cách thể hiện stream của Google+ là ví dụ về Sina Weibo.

  11. Điểm gì chung nhất ở Cyworld Hàn Quốc, QQ và Sina Weibo?

    QQ có hệ thống huy hiệu; Cyworld có hệ thống “điểm quan hệ”; Sina Weibo có hệ thống huân chương – Người ta hay mô tả mô hình này với khái niệm gamification.

    Hệ thống gamification của Sina Weibo bao gồm khoảng 50 loại huân chương; và hệ thống rankings. Mỗi huân chương tồn tại trong vòng 24h, và thời hạn có hiệu lực để thưởng khác nhau, và thưởng cho từng hoạt động nhất định của người sử dụng Weibo. Nghĩa là: Khuyến khích liên tục chia sẻ và sáng tạo – Muốn có huân chương thì phải chạy đua!

    Twitter có gì? Người nổi tiếng thì mãi là người nổi tiếng, còn tweeter thì mãi là tweeter; chỉ có con số followers để tự sướng.

  12. Sina Weibo là thảo luận, Twitter là tán dóc.

    Sina Weibo có hai chế độ hiển thị messages: discussion thread (dành cho thảo luận); và dialogue (dành cho tán dóc). Nghĩa là nó giúp users dễ dàng theo dõi mạch thảo luận; đặc biệt đối với những chủ đề nghiêm túc.

  13. Sina Weibo hướng đến cộng đồng, Twitter hướng đến đám đông.

    Có bao nhiêu mối quan tâm mà Twitter cung cấp ở mục “Who To Follow”? Không nhiều, những quan tâm chung chung dành cho đám đông.

    Weibo giải quyết bằng cách đưa ra “Club” – nơi tập trung đa dạng từ chủ đề cho đến sở thích.

    Ở qui mô nhỏ hơn, Weibo cho phép phân nhóm theo mối quan hệ. Hãy nghĩ về lists của Facebook và Circles của Google+.

  14. Weibo dành cho người “lười”

    Hầu hết những người tiêu dùng đều “lười”. Tại sao mô hình portal all-in-one vẫn thông dụng ở Hàn Quốc, Trung Quốc? Vì lười! Người ta cần đến những nơi thông tin sẵn có hơn là gõ Search.

    Design concept của Sina Weibo đều có một landing page cho từng mục. Để làm gì? Phục vụ những người lười. 

  15. Khuyến khích danh tính thật

    Nhiều người Mỹ, và ngay cả ở Việt Nam phê phán Real-name policy của Google+. Nhưng chính họ lại ủng hộ tính minh bạch & danh tính thật trong môi trường Social Media. Đó là nghịch lý.

    Người Hàn Quốc đã sống với real-name policy gần 15 năm.

    Ở Sina Weibo, real-name policy là không bắt buộc, nhưng người ta cũng không thể giấu.

  16. Sina Weibo có chiếc áo của Twitter, nhưng ruột rà giống Facebook.

    Giống như Zing có thể đã có Zing Me, nhưng vẫn có thể có Zing Live. Có một bài học từ QQ: Cannibalization nếu quản lý không tốt.

  17. Năm 2007, tôi học tiếng Hàn để hiểu về xu hướng công nghệ của Hàn Quốc.

    Năm 2011, nếu có ai hỏi, tôi sẽ nói: Học tiếng Trung.

  18. Cuối cùng, chính phủ Trung Quốc nhìn Sina Weibo nói riêng và social media như thế nào? Đã thảo luận với @taitran ở đây: https://www.facebook.com/taitran/posts/10150301795461693