Category: Uncategorized

Con đường đến The Hague của người Philippine

102541374 (1)

Kể từ khi Trung Quốc tuyên bố Đường Chín Đoạn vào năm 1947, quan hệ Bắc Kinh – Manila chưa bao giờ đạt đến mức độ xung đột và căng thẳng như quan hệ Bắc Kinh – Hà Nội. Ngay cả khi vào năm 1996, sự kiện Mischief Reef đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc xung đột quân sự với một nước thành viên ASEAN khác ngoài Việt Nam. Đó là Philippines.

Kể từ năm 1990, Trung Quốc tiến hành gia tăng tranh chấp chủ quyền với các quốc gia Đông Nam Á tại khu vực vùng biển phía nam Trung Hoa, trong suốt hơn 20 năm. Tuy nhiên, Manila không hề bị đe dọa bởi Bắc Kinh, bởi 3 lí do: (1) vai trò đồng minh của Mỹ, (2) vị trí địa chính trị và quan hệ chiến lược với khối Thịnh Vượng Chung, và (3) khởi sắc quan hệ với Nhật Bản kể từ sau Thế chiến 2. Hơn nữa, thời Clinton (1993-2001) là một trong những thời đại vàng trong quan hệ Washington-Manila. Thực tế, Philippines chính là quốc gia chủ động kêu gọi đoàn kết ASEAN để đối phó với chính sách Đường chín đoạn của Trung Quốc. Kết quả từ hành động này là ASEAN-China Code of Conduct on South China Sea (Tuyên bố nguyên tắc ứng xử trên biển Đông) vào cuối năm 2002.

Mục tiêu của Philippines, được thể hiện rõ rệt nhất qua vụ kiện với Trung Quốc trên cơ sở UNCLOS 1982, không phải là giải quyết tranh chấp chủ quyền biển (sovereignty issues), mà là giải quyết tranh chấp về phạm vi và quyền khai thác đại dương và các nguồn tài nguyên liên quan. Manila biết rõ: Với tư cách là thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ của Trung Quốc, giải quyết vấn đề chủ quyền với Bắc Kinh là khả năng khó có thể xảy ra đối với Philippines nói riêng và ASEAN nói chung.

Năm 2001, con đường đến The Hague của người Phi Luật Tân đột ngột bị gián đoạn trong gần 13 năm. Sự kiện ngày 11 tháng 9, về cơ bản, đã thay đổi cục diện thế giới nói chung và mối quan tâm của Hoa Kì. Năm 2001, tại Hoa Kì, cũng đánh dấu sự kiện Bill Clinton rời Nhà Trắng và khởi đầu giai đoạn lãnh đạo kéo dài 8 năm của George W. Bush. Tại Manila, Gloria Macapagal Arroyo, con gái của cựu tổng thống Philippines Diosdado P. Macapagal, nhậm chức Tổng thống nước Cộng hòa Philippines.

Gloria Arroyo, tiến sĩ kinh tế đã từng được đào tạo tại Hoa Kỳ và là bạn học của cựu tổng thống Bill Clinton tại trường đại học  Georgetown ở Washington, kế thừa quan điểm phát triển kinh tế thị trường tự do của cha mình và tư tưởng kinh tế phương Tây. Kể từ đây, chính sách kinh tế của Gloria Arroyo trở thành yếu tố quan trọng góp phần thay đổi quan hệ ngoại giao cũng như đối sách chính trị quốc tế của Manila.

Kinh tế Philippines

Hậu khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Philippines đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng net-FDI thấp (dưới 2%); thuộc nhóm thấp nhất trong ASEAN-6 (so với Singapore, Vietnam, Malaysia, Indonesia & Thailand). FDI lũy kế chỉ bằng 58% so với Việt Nam.

Trong hoàn cảnh đó, thực thi chính sách phát triển kinh tế được ủng hộ bởi IMF & World Bank. Arroyo thực hiện tư hữu hóa một số ngành công nghiệp quan trọng, cắt giảm chi tiêu công, và tăng thuế (đặc biệt là VAT). Thông qua quan hệ với Hoa Kỳ để giảm rào cản xuất khẩu cho hàng hóa Phi Luật Tân trên thị trường thế giới, đặc biệt là EU. Arroyo cũng không muốn một quan hệ ngoại giao với Mỹ mà chỉ có lợi cho người Mỹ. Quan trọng nhất, chính là chính sách thu hút FDI và cải cách sở hữu đất đai (dỡ bỏ giới hạn sở hữu đất của người nước ngoài).

Chính sách kinh tế của Arroyo đã đạt được hai thành tựu quan trọng: (1) Gia tăng FDI, đặc biệt từ Trung Quốc; và (2) GDP đạt mốc 6.9% vào năm 2007. Tuy nhiên, chính sách của Arroyo đã kéo theo những hệ lụy quan trọng: (1) Gia tăng tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng thu nhập; (2) Giá tiêu dùng tăng và gia tăng thất nghiệp; (3) Bất ổn an ninh xã hội do hoạt động khủng bố của Abu Sayyaf và các lực lượng đối lập khác.

Quan hệ với Hoa Kỳ

Quan hệ Manila-Washington trở nên gập ghềnh sau khi Bill Clinton rời Nhà Trắng. Đặc biệt là khi Bush và nguồn lực Hoa Kỳ dần dần tập trung vào Trung Đông từ sau 11/9. Sự thất bại của ASEAN-China Code of Conduct on South China Sea vào năm 2002 là dấu hiện đầu tiên.

Là đồng minh thân cận, Manila ủng hộ chính sách chống khủng bố của Washington. Tuy nhiên, về bản chất, tồn tại một sự bất đồng giữa Arroyo và Bush. Arroyo xem nghèo đói (một vấn đề của xã hội Philippines) là nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố. Điều này trái ngược với quan điểm của Bush.

Quan hệ Manila-Washington trở nên lạnh nhạt hơn bởi nhiều cáo buộc liên quan đến Arroyo: (1) Tham nhũng; (2) Gian lận bầu cử; bạo lực chính trị; và (3) Sử dụng viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho mục đích phi dân chủ, vi phạm nhân quyền.

Kể từ 2003, thay vì nhấn mạnh quan hệ song phương với Hoa Kỳ, Arroyo hướng về chính sách đa phương. Đối tác quan trọng của Manila, không ai khác chính là Bắc Kinh.

Cơ hội của Bắc Kinh

Quan điểm về chủ quyền của Bắc Kinh trên vùng biển nam Trung Hoa hết sức rõ ràng và không nhân nhượng. Một trở ngại của Bắc Kinh chính là sự đoàn kết của ASEAN. Chính vì vậy, Trung Quốc tránh né đàm phán về biển Đông với ASEAN như là một nhóm. Chiến lược của Trung Quốc là “chia để trị,” thông quan thỏa thuận song phương (thực chất là “các chuyến đi đêm” với từng thành viên ASEAN. Năm 2008, Trung Quốc kí kết Joint Energy Accord (Hợp tác đồng khai khác năng lượng trên biển Đông Trung Hoa) với Nhật Bản. Trong khi Hoa Kỳ phải đối phó với vấn đề Trung Đông, sự kiện này càng tạo thêm sức mạnh đàm phán cho Bắc Kinh trên vùng biển nam Trung Hoa.

Thông qua đầu tư nước ngoài và chính sách ngoại giao, Trung Quốc về cơ bản đã chia tách ASEAN thành hai nhóm. Ngoại trừ nhóm có quyền lợi ít bị ảnh hưởng trên biển Đông, nhóm còn lại bao gồm Malaysia, Vietnam, Philippines và Indonesia.

Xét về địa chính trị, Việt Nam và Philippines là hai chướng ngại vật án ngữ cần phải vượt qua của Bắc Kinh để hiện thực hóa chính sách Đường chín đoạn. Vì vậy, đây là thời cơ vàng cho Trung Quốc để “mua chuộc” Philippines (như sách lược đang thực hiện của Bắc Kinh với Jakarta).

Gloria Arroyo đã thỏa hiệp với Bắc Kinh như thế nào?

Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống, bà Arroyo đã thực hiện khoảng 10 chuyến công du đến Trung Quốc, bắt đầu từ năm 2004. Nhiều nhất trong lịch sử các tổng thống của Phi Luật Tân (vốn chỉ 1-2 chuyến). Năm 2005 đánh dấu “thời đại vàng” trong quan hệ Trung-Phi, với hàng loạt dự án hợp tác song phương quan trọng được kí kết. Cùng với ba cơ quan ngoại giao đặt tại Hong Kong, Macau, và Bắc Kinh, Manila cũng cho xây dựng thêm 4 cơ quan ngoại giao tại Thượng Hải, Trùng Khánh, Quảng Châu và Hạ Môn.

Trung Quốc ký kết thỏa thuận ODA với Phi Luật Tân trị giá 1.27 tỷ USD kéo dài 8 năm từ 2002 đến 2010. Tai tiếng nhất đó là Manila đã ký kết MOU giá trị 4 tỉ USD cho phép ZTE đầu tư vào hạ tầng viễn thông của Phillippines. Một số dự án khác đã bị báo chí Phi Luật Tân phanh phui về tham nhũng, đáng kể nhất là dự án đường sắt Northrail và Cyber-Education.

Đỉnh điểm nhất đó là Gloria Arroyo đã cùng với Trung Quốc phát triển Thỏa thuận Đồng Hợp tác Nghiên cứu Khoa học Địa chấn Hải dương trên một số khu vực vùng biển nam Trung Hoa (A Tripartite Agreement for Joint Marine Scientific Research in Certain Areas in the South China Sea) có hiệu lực vào năm 2005. Mà sau đó, Việt Nam “cũng phải” tham gia thỏa thuận này. Một sự kiện mà người Phi Luật Tân gọi Gloria Arroyo là “kẻ bán nước.”

Tháng 3 năm 2009, Arroyo thông qua Luật 9522 quy định đường cơ sở (baselines) của quần đảo Philippines mà không bao gồm Bãi cạn Scarborough và Kalayaans (Trường Sa), nhưng bãi cạn và các đảo này vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) công nhận. Một số học giả cho rằng luật 9522 làm suy yếu vị thế của Philippines trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển.

Không dừng tại đó, năm 2009, ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống, Gloria Arroyo đã ký với Bắc Kinh về kế hoạch hợp tác chiến lược toàn diện giữa Philippines và Trung Quốc, kéo dài 5 năm.

The Hague

Năm 2009, Barack Obama trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Năm 2010, ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, tuyên bố mối quan tâm của Hoa Kỳ ở biển nam Trung Hoa. Tại vùng biển Đông Trung Hoa, thái độ của chính phủ Shinzo Abe cũng trở nên cứng rắn hơn với Trung Quốc. Cũng trong cùng năm đó, Benigno Aquino III, thành viên của dòng họ Aquino có vai trò quan trọng trong lịch sử Phi Luật Tân và có quan hệ tích cực với người Mỹ, trở thành Tổng thống. Năm 2012, Philippines, một lần nữa, kêu gọi sự đoàn kết của ASEAN trong giải quyết tranh chấp biển Đông. Năm 2013, Philippines khởi kiện Trung Quốc tại Tòa án Trọng tài thường trực theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS), sau tranh chấp bãi cạn Scarborough vào năm 2012.

Con đường đến The Hague của người Phi Luật Tân là minh chứng cho sự phức tạp của quan hệ quyền lực trong thế giới toàn cầu hoá; mà đòi hỏi sự nhạy cảm chính trị và sự kiên trì cao độ. Thiếu vắng các yếu tố chính trị thuận lợi như Philippines, rõ ràng là Việt Nam đang phải khéo léo và kiên nhẫn nhiều lần hơn thế. Một sự kiên nhẫn mà bản chất của nó được thể hiện qua câu nói: “Patience is power. Patience is not an absence of action; rather it is “timing.” It waits on the right time to act, for the right principles and in the right way.” (Fulton J. Sheen)
Tài liệu tham khảo:

UNCTAD – http://unctad.org/en/Pages/Home.aspx

Limits in the Seas – http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf

Philippine president accused of “treason” over Spratlys deal with China – https://www.wsws.org/en/articles/2008/03/phil-m29.html

ZTE-NBN scandal triggers political crisis in the Philippines – https://www.wsws.org/en/articles/2008/03/phil-m07.html

PHL-China relations – http://beijingpe.dfa.gov.ph/phl-china-relations

SC upholds constitutionality of Baselines Law – http://www.philstar.com:8080/headlines/717263/sc-upholds-constitutionality-baselines-law

Japan Protests Chinese Construction in East China Sea – http://thediplomat.com/2016/06/japan-protests-chinese-construction-in-east-china-sea/

South China Sea dispute overshadowing summits – http://www.koreatimes.co.kr/www/news/nation/2015/10/116_189730.html

Offering to Aid Talks, U.S. Challenges China on Disputed Islands – http://www.nytimes.com/2010/07/24/world/asia/24diplo.html

LEGAL POSTURING AND POWER RELATIONS IN THE SOUTH CHINA SEA – https://amti.csis.org/legal-posturing-and-power-relations-in-the-south-china-sea/

PH to ASEAN: Implement principles on South China Sea – http://www.rappler.com/nation/16341-aquino-calls-for-asean-unity-on-south-china-sea

No Asean unity in sea row with China – http://globalnation.inquirer.net/56974/philippines-says-no-asean-unity-over-china-row

Recent Developments in the South China Sea Dispute – http://www.tandfebooks.com/isbn/9781315818696

The South China Sea Dispute: Navigating Diplomatic and Strategic Tensions – https://bookshop.iseas.edu.sg/publication/2157

China’s Regional Relations: Evolving Foreign Policy Dynamics, by Mark Beeson and Fujian Li. – http://www.journals.uchicago.edu/doi/abs/10.1086/683474?af=R&

State, Globalization and Multilateralism – http://www.springer.com/us/book/9789400728424

Diverse Multilateralism: Four Strategies in China’s Multilateral Diplomacy – http://link.springer.com/article/10.1007/s11366-012-9202-6

 

Advertisements

Lạm bàn về Web 3.0 và Semantic Web

Sau một vài tháng không nghĩ ra được gì nhiều để viết tiếp về Web 2.0, một phần cũng là do chưa có một sự kiện nào thực sự gây ấn tượng để có thể viết về đề tài này sâu sắc hơn. Vả lại, nguồn thông tin về Web 2.0 cũng đã rất phong phú và thế giới công nghệ cũng còn nhiều điều cần phải bàn đến. Điển hình là Web 3.0 – một giai đoạn đã và đang diễn ra, nhưng chưa có nhiều người thực sự nhìn nhận sự tồn tại của nó. Vậy thì nên hiểu các khái niệm Web 3.0 và Semantic Web như thế nào cho chính xác?

Hiểu về Web 3.0 và Semantic Web như thế nào?

Trong giới hạn của bài viết này, tôi không thể giải thích toàn bộ và cặn kẽ về Semantic Web và Web 3.0, mà chỉ tập trung đến việc giải thích sự xuất hiện của Web 3.0 và mối quan hệ giữa Web 3.0 và Semantic Web.

Hiện nay, có thể nói: Web 3.0 được hiểu như là một giai đoạn kế tiếp của Web ( sau Web 2.0 ) mà nền tảng của nó chính là một tập hợp các công nghệ, quy tắc, và tổ chức được gọi là Semantic Web; tận dụng năng lực xử lý dữ liệu và tốc độ internet tiên tiến để thỏa mãn nhu cầu sử dụng nội dung web của người và máy theo một cách thông minh hơn.

Web 3.0 có thể được quan sát từ nhiều góc nhìn khác nhau, có thể được tóm tắt theo bảng dưới:

Nhà nghiên cứu Góc nhìn
Tim Berners-Lee, nhà phát minh WWW Semantic Web (Nguồn)
Eric Schmidt, CEO của Google Cloud computing (Nguồn)
Jerry Yang, sáng lập Yahoo! Web 3.0 là một sự mở rộng của Web 2.0 (Nguồn)
Reed Hastings, CEO của Netflix Tốc độ truy cập (Nguồn)

Web 3.0 đã xuất hiện hay chưa?

Tim Berners-Lee đã có những dự báo thiên tài về sự xuất hiện của Web 3.0 ngay từ năm 2005-2006. Kế thừa những lý luận của Tim, Nova Spivack (http://www.twine.com/user/nova) – đồng sáng lập của Radar Networks và EarthWeb – đã vạch ra xu hướng rất cụ thể cho sự phát triển của Web trong tương lai. Nova Spivack dự đoán rằng 2010-2020 sẽ là thập niên của Web 3.0, chứ hoàn toàn không hề đề cập việc Web 3.0 đã xuất hiện hay chưa. Điều này đã làm cho nhiều người hoài nghi về cái gọi là Web 3.0. Theo quan điểm của cá nhân tôi, 2010-2020 sẽ là giai đoạn bùng nổ Web 3.0, còn thực tế Web 3.0 đã xuất hiện từ trong lòng Web 1.0 và Web 2.0, và hiện nay đang trong quá trình hoàn thiện để sẵn sàng cho giai đoạn phát triển nội tại kế tiếp của nó. Web 3.0 hiện nay vẫn đang trong mạch chảy ngầm thầm lặng bằng Semantic Web. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của Yahoo, Microsoft và Google trong thời gian qua nhằm sẵn sàng cho một không gian thị trường mới trong thời kỳ Web 3.0 đã và đang minh chứng cho điều đó.

Web 3.0 đã xuất hiện với những xu hướng đặc trưng của nó

Các xu hướng công nghệ trong giai đoạn Web 3.0 đã được đề cập rất rõ tại Wikipedia (http://en.wikipedia.org/wiki/Web_3.0). Ở đây, tôi chỉ cần chỉ ra những ứng dụng minh chứng rất rõ rệt:

Xu hướng công nghệ trong giai đoạn Web 3.0 Ứng dụng hiện tại
Open Identity OpenID, Clickpass, Yahoo AuthBB…
Semantic Web Search Engines (Cuil, Ask, Google), hệ thống recomendations của Online Shops và Multimedia sites, văn hóa API
Distributed Databases Amazon SimpleDB, Amazon Storage Service
Open Technologies Google AppEngine, Android
Network Computing Amazon Elastic Compute Cloud, Amazone Simple Queue Service
Ubiquitous Connectivity Android, Google Chrome, iPhone
Intelligent Apps Google Translate

Với những phân tích như trên, điều đó chứng minh một điểm mấu chốt rằng: Web 3.0 đã xuất hiện (sớm hơn nhiều người nghĩ) và đang vận động. Những xu hướng công nghệ đặc trưng trong giai đoạn Web 3.0 đã được đề cập hết sức rõ ràng cũng như những định nghĩa căn bản nhất của nó cũng đã được phơi bày trên rất nhiều tài liệu nghiên cứu.

Và rằng Web 3.0 là một quá trình diễn tiến liên tục, và là một cuộc cách mạng không ngừng. Thế nên mọi nỗ lực nhằm cố gắng định nghĩa nó, định hình nó là điều không thể. Mỗi giai đoạn của Web 3.0 đều có một đặc điểm riêng. Do đó, nên hiểu nhận định của Nova Spivack về giai đoạn Web 3.0 trong thập niên 2010-2020 rằng đó là thời kỳ ứng dụng rộng rãi của Web 3.0, là thời kỳ mà Web 3.0 có những tác động sâu rộng đến khoa học và đời sống. Và khoảng thời gian (tôi tạm quy định) 2006-2009 chính là giai đoạn Web 3.0 đã hình thành và đang chuẩn bị tạo nên sự đột phá trong thập niên mới.

Tóm lại, có thể nhận xét về tình hình phát triển của Web 3.0 trong giai đoạn hiện nay như sau:
– Web 3.0 đã hình thành và đang phát triển đến mức độ cao hơn
– Web 3.0 đã tồn tại những định nghĩa căn bản nhất, những xu hướng công nghệ đặc trưng nhất.
– Web 3.0 là một cuộc cách mạng tiếp theo của Web nên cần xem xét nó trong sự vận động, không ngừng hơn là cố gắng “chụp mũ”.

Web 3.0 và Semantic Web có quan hệ với nhau như thế nào?

Ngoài phần định nghĩa về Web 3.0, và Semantic Web, sẽ cụ thể hơn nếu chúng ta nhìn vào đồ thị phát triển của Web của Nova Spivack (SLIDE 5 và 6):

Vì vậy, khi ta nói đến Web 3.0 trong giai đoạn hiện nay tức là hàm ý đề cập đến giai đoạn phát triển và hoàn thiện của Semantic Web. Có thể nói nôm na, Semantic Web chính là cái nền, cái móng của Web 3.0. Trong rất nhiều trường hợp, người ta hay sử dụng đặc điểm đặc trưng nhất của một thời kỳ nhất định để miêu tả về thời kỳ đó. Trong cuộc cách mạng không ngừng của Web, cái điểm đặc trưng nhất chính là… nền tảng. Chính vì vậy, nhiều tài liệu nghiên cứu của nước ngoài vẫn đề cập đến Web 3.0 hiện nay như là giai đoạn của Semantic Web. Đây không phải là một cách dùng sai, hoặc nhầm lẫn khái niệm, mà nó đã trở thành tập quán sử dụng từ. Nếu không thực sự am hiểu, sẽ có rất nhiều người cảm thấy mập mờ về khái niệm này.

Thời kỳ Nền tảng cốt lõi của thời kỳ
PC Desktop
Web 1.0 WWW
Web 2.0 Social Web
Web 3.0 Semantic Web
Web 4.0 Intelligent Web

Cũng cần phải để ý rằng, chỉ khi có sự xuất hiện của “Web 2.0”, thì các nhà nghiên cứu mới thực hiện truy ngược lại lịch sử và gọi giai đoạn của World Wide Wide (WWW) với một tên khác là Web 1.0.

Như vậy, có thể thấy rõ rằng quan niệm sai lầm về sự xuất hiện của Web 3.0, cùng với sự hiểu không rõ ràng về tập quán sử dụng từ ngữ đã khiến nhiều người không nhận ra mối quan hệ căn bản giữa Web 3.0 và Semantic Web.

Hơn nữa, Semantic Web có thể coi là “phần chìm” của Web 3.0, do đó nếu không nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng về các xu hướng công nghệ thì sẽ rất khó nhận ra những biểu hiện của Semantic Web.

Một điểm mấu chốt khác, đó là: Semantic Web là nền tảng không thể tách rời của Web 3.0, nhưng nhà phát triển có quyền kế thừa những ưu điểm, và công nghệ của Semantic Web. Đó chính là tính độc lập tương đối của công nghệ.

Web 3.0 đã xuất hiện tại Việt Nam?

Web 2.0 vẫn đang là xu hướng đang phát triển tại Việt Nam, nhưng không có nghĩa là không có những dấu hiệu tiềm tàng của Web 3.0. Các sản phẩm của Việt Nam vẫn đang nỗ lực hết mình nhằm bắt kịp xu thế mới của thời đại. Có thể kể đến một số biểu hiện, như:

– Thuật toán tìm kiếm và xử lý dữ liệu tiếng Việt của Socbay, Zing hay Baamboo để cho ra kết quả tốt hơn, thông minh hơn cho người sử dụng. Hoặc có thể nói đến ứng dụng KillPorn nhằm nhận dạng tự động các hình ảnh sex, hoặc thuật toán music-recommendations của Chacha.vn.

– Ứng dụng di động và những ứng dụng web theo mô hình phát triển mới (dù chỉ dừng lại ở mức thử nghiệm cá nhân)

– Ngoài ra, một số dịch vụ web Việt cũng đang nỗ lực học hỏi theo những xu hướng của Web 3.0 hay Semantic Web, như YAN Search hợp tác với Socbay.

Mức độ thành công, cũng như chất lượng dịch vụ đến đâu thì vẫn còn là dấu chấm hỏi. Chả phải Google Translate phiên bản tiếng Việt vẫn dịch ra những câu rất ngây ngô đấy sao?

Tuy nhiên, điều cần nhất ở đây vẫn là sự ủng hộ của cộng đồng. Dường như người VN vẫn còn chưa mặn mà với những nỗ lực của các dịch vụ web Việt Nam. Quan niệm sử dụng phần mềm testing vẫn chưa được phổ biến, dẫn đến sự ngộ nhận về chất lượng cũng như tính năng của các dịch vụ.

Có lẽ, bài học “bội thực thông tin” vẫn còn đó, và có lẽ tôi sẽ viết thêm một bài khác, gọi là  “quếp ba chấm không” để kế tiếp cho bài “Quếp Hai Chấm Không” trước đây chăng?

Thông tin tham khảo
– Nova Spivack on the Future of Twine and the Intelligent Web:
http://tinyurl.com/3zb27g
– Spivack Blogtalk 2008 (Understanding the Semantic Web): http://www.slideshare.net/BlogTalk2008/spivack-blogtalk-2008
Web 3.0 and medicine: http://student.bmj.com/issues/08/03/editorials/095.php

Tám về vai trò CEO của người sáng lập tại tech start-ups

Sau khi viết về sự kiện Carol Bartz – Yahoo, một phần nhỏ trong sở thích quan tâm đến các công ty công nghệ, tôi may mắn tìm được bài nghiên cứu “Founder-CEO Succession and the Paradox of Entrepreneurial Success” thực hiện bởi giáo sư Noam Wasserman của trường Harvard Business School vào năm 2003. Đây là kết quả từ khảo sát các top executives (Chairman, CEO, CFO & HR directors) của các công ty internet start-ups qui mô vừa và nhỏ. Nghiên cứu của Noam tập trung vào vấn đề kế nhiệm chức vụ CEO của sáng lập viên (Founder).

Ở doanh nghiệp lớn, thành bại của CEO phụ thuộc vào: lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu, và cơ hội kinh doanh.

Ở start-ups, Noam xác định hai sự kiện ảnh hưởng đến kế nhiệm chức vụ của Founder-CEO:

1/ Giai đoạn hoàn tất phát triển sản phẩm

– Nguy cơ miễn nhiệm tăng ngay sau giai đoạn hoàn tất phát triển sản phẩm.

– Kinh nghiệm hạn hẹp: tăng nguy cơ miễn nhiệm.

– Sức mạnh đồng minh nội bộ, đặc điểm doanh nghiệp và một số yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến nguy cơ miễn nhiệm.

– Thời gian hoạt động của công ty càng dài: tăng nguy cơ miễn nhiệm.

Ở giai đoạn phát triển sản phẩm, founder-CEO tập trung thu hút nhân lực kỹ thuật, quản lý và hoàn thiện sản phẩm. Tuy nhiên, sau khi sản phẩm hoàn tất, trách nhiệm CEO mở rộng và phức tạp hơn. Hoạt động sales & marketing, phát triển kinh doanh, quản lý nhân sự tạo ra thách thức cho các Founder-CEO có kinh nghiệm hạn hẹp – mở rộng “experience gap”: không thể đáp ứng nhu cầu mới của doanh nghiệp. Nếu nhà đầu tư nghi ngờ khả năng của founder-CEO trong dài hạn, hẳn nhiên sẽ phải thay đổi để tránh những tác động xấu do thiếu kinh nghiệm quản lý của founder-CEO.

Điều này không hẳn chính xác đối với các mô hình kinh doanh mới, có tính khác biệt cao ngay cả sau khi hoàn tất một giai đoạn phát triển sản phẩm quan trọng. Hơn nữa, khi lợi thế doanh nghiệp được founder-CEO xây dựng thì nguy cơ miễn nhiệm có thể giảm sau khi hoàn tất phát triển sản phẩm.

2/ Giai đoạn huy động vốn từ nhà đầu tư

– Nguy cơ miễn nhiệm tăng sau mỗi giai đoạn huy động vốn từ nhà đầu tư bên ngoài (quy mô vốn đầu tư, và số lượng các nhà đầu tư mới tham gia vào công ty).

– Tỷ lệ sở hữu cao: giảm nguy cơ miễn nhiệm. Nguy cơ miễn nhiệm ở privately held companies thấp hơn.

– Giá trị doanh nghiệp cao: giảm nguy cơ miễn nhiệm.

Đối với privately held companies, nguồn vốn nội bộ có hạn, doanh nghiệp tăng trưởng tương đối chậm do ít sự hỗ trợ từ VC; nhưng các founder-CEO tận dụng thời gian để hoàn thiện kỹ năng quản trị. Quan trọng hơn, họ có thể gia tăng tỷ lệ sở hữu bằng cách gia tăng giá trị doanh nghiệp trước khi có sự tham gia của nhà đầu tư bên ngoài.

Nếu founder-CEO huy động vốn thành công với quy mô lớn, đồng nghĩa với giảm tỷ lệ sở hữu, thì họ cũng tự làm tăng nguy cơ miễn nhiệm. Do đó, trong nghiên cứu này, Noam hàm ý: ngay cả khi dẫn dắt thành công qua cả hai giai đoạn, founder-CEO vẫn có nguy cơ phải rời vị trí CEO.

Có thể liên hệ nghiên cứu của Noam với những trường hợp gần đây, chẳng hạn:

Case “Carol Bartz – Yahoo”:

Mặc dù nghiên cứu của Noam tập trung vào giai đoạn đầu của các start-ups nhưng một số kết luận vẫn có thể áp dụng trong các giai đoạn sau này. Nếu như trong bài viết trước, tôi quan sát case “Carol Bartz – Yahoo” dựa trên một quan điểm của David Aaker, thì nghiên cứu của Noam chỉ rõ lý do tại sao Carol Bartz bị sa thải:

– Thách thức cho Carol Bartz chính là: mô hình kinh doanh của Yahoo hoàn toàn khác Autodesk, với hơn 13,000 nhân viên Yahoo so với từ 5,000-6,000 nhân viên Autodesk.

– BOD của Yahoo có sự phân hoá rất rõ rệt: một nhóm thành viên tham gia từ nửa sau 2010, còn một nhóm khác tham gia vào BOD từ năm 2005 trở về trước. Trong đó phải nói đến Roy Bostock & Jerry Yang – hai nhân vật có sức ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý của Carol. Thời điểm Carol Bartz tham gia Yahoo vào năm 2009 có thể nói là gần như không có đồng minh nào có sức ảnh hưởng.

– Chiến lược kinh doanh của Carol Bartz không nhận được sự đồng thuận của BOD.

Case “Mark Zuckerberg – Facebook”:

Đây là ví dụ rất dễ thấy bởi vì Mark hội đủ những yếu tố rất cần thiết để duy trì vị trí CEO dựa theo phân tích của Noam:

– Facebook là mô hình phát triển liên tục.

– Mark Zuckerberg được ví như mastermind của concepts & business model của Facebook; quan hệ Mark-Facebook cũng tương đồng như quan hệ Steve-Apple, Bill-Microsoft.

– Mark được hỗ trợ và ủng hộ từ investors.

– Không vội bán ngay như MySpace, mà chờ đợi để tăng giá trị doanh nghiệp và tỷ lệ sở hữu của cá nhân Mark Zuckerberg.

Case “Stewart Butterfield – Flickr” và “Steve Jobs – Apple”:

 Đây là 2 ví dụ điển hình khi hai sự kiện ảnh hưởng đến vị trí CEO của founder:

– Stewart từ chức khỏi vị trí GM tại Flickr giữa năm 2008, sau khi Flickr đã đi vào giai đoạn ổn định về hệ thống, mô hình và tích hợp với Yahoo!

– Vai trò của Stewart không còn phù hợp với chiến lược mới của Yahoo.

 Đối với Steve Jobs, lật lại lịch sử của Apple kể từ IPO vào năm 1980, vai trò của Steve không còn phù hợp với môi trường cạnh tranh giai đoạn 80-85. Đặc biệt sau khi hãng thất bại với Lisa và Macintosh vào năm 1984 trước Microsoft. Thay thế Steve Jobs là John Sculley, cựu CEO của Pepsi và một CEO trọng thương mại xuất thân từ sales & marketing.

Vẫn có những trường hợp mà vai trò CEO của founder có thể kéo hơn 20 năm: Bill Gates tại Microsoft. Tuy nhiên, những trường hợp như Bill Gates là cực kỳ hiếm, nhất là đối với các tech start-ups.

Do vậy, sự phát triển của start-ups được xem như là sự chia tách của hai yếu tố: sở hữu và quản lý. Có thể hiểu rằng: Ngay cả khi thay đổi CEO mới; nhà đầu tư cũng không thể hoàn toàn loại bỏ được rủi ro. Đối với CEO mới được tuyển ngoài: có tỷ lệ sở hữu thấp, tồn tại conflict of interest với nhà đầu tư, và tốn kém thời gian cũng như chi phí ban đầu để điều hành doanh nghiệp.

Khi founder không còn nắm giữ vị trí CEO, vai trò của họ vẫn có những ảnh hưởng đáng kể. Nếu founder duy trì vị trí trong BOD, chẳng hạn với chức vụ Chairman of the Board; thì đây sẽ là thách thức cho CEO mới bởi vì ảnh hưởng rất lớn của người sáng lập đến toàn bộ tổ chức.

Như một nhà đầu tư đã từng nói: “You can replace an executive, but you can’t replace a founder.

=============================

* “Founder-CEO Succession and the Paradox of Entrepreneurial Success” – Noam Wasserman http://www.mediafire.com/?ixlsutpttw6kpst

* “Following Steve Jobs: Good luck Tim Cook” – http://communities.washingtontimes.com/neighborhood/making-change/2011/aug/28/following-steve-jobs-good-luck-tim-cook/

* http://poponthepop.com/gallery/mark-zuckerberg-at-the-office/

Vì sao người Mỹ giảm quan tâm vào MBA?

1. Bài báo của Bloomberg “Americans Might Be Losing Interest in Business School” chỉ ra sự sụt giảm số lượng người Mỹ tham gia kiểm tra GMAT, hầu hết với mục đích ứng tuyển vào chương trình MBA và các chương trình thạc sĩ khác tại B-schools – giảm 33% trong vòng 5 năm, từ 130,000 (2009) xuống còn 87,000 (2014). Số ứng viên người Mỹ vào chương trình MBA (2 năm) cũng giảm so với ứng viên quốc tế. Tuy nhiên, không có một lí do rõ ràng giải thích cho sự sụt giảm này.

2. Bối cảnh thứ nhất: Tranh cãi xung quanh hiện tượng vì sao người Mỹ không còn quan tâm vào MBA chủ yếu vẫn tập trung vào các vấn đề ngắn-trung hạn như học phí (và chi phí khác), ROI 5 năm, cơ hội nghề nghiệp sau tốt nghiệp, và các sự lựa chọn sự nghiệp & giáo dục khác tương đương với MBA [1]. Tuy nhiên, về dài hạn, MBA vẫn là một sự đầu tư xứng đáng, bao gồm cả sự ổn định nghề nghiệp trong tương lai, đường hướng sự nghiệp, khả năng thích ứng, quan hệ xã hội, kiến thức, kỹ năng và tầm nhìn.

3. Bối cảnh thứ hai: Như bài báo chỉ ra một hiện tượng có tính chất chu kì: Khi nền kinh tế và/hoặc thị trường việc làm trở nên khó khăn, người Mỹ có xu hướng đăng ký thi GMAT & ứng tuyển MBA cao hơn.

4. Tuy nhiên, theo tôi, hai bối cảnh này đã không diễn ra trong thời kì 2009-2014. Thị trường lao động và tiền lương không khả quan trong thời kỳ này là hai yếu tố góp phần hạ thấp chi phí cơ hội của việc học MBA. Hơn nữa, cơ sở để tính toán lãi vay ưu đãi cho sinh viên, lãi suất thực Treasury note 10 năm đã giảm từ 3% (2009) xuống còn dưới 0% (2013), và dưới 1% (2014) [2]. Tại sao ngay cả trong điều kiện như vậy, người Mỹ vẫn không quay lại B-schools? Cá nhân tôi nghĩ rằng hậu quả của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế 2007-2009 khiến người Mỹ không còn ‘hào hứng’ với MBA & B-schools như trước đây; ngay cả khi các ứng viên MBA vốn là đối tượng có điều kiện kinh tế ổn định hơn các thành phần khác trong xã hội.

5. Một ngoại lệ: Trong khi các chương trình MBA đều sụt giảm ứng viên, thì EMBA lại tương đối ổn định và ít bị ảnh hưởng [3]. Hiển nhiên, các ứng viên EMBA, trong độ tuổi 30-40, có vị trí sự nghiệp & năng lực kinh tế tốt hơn.

6. Đối với các chương trình MBA khác, các ứng viên MBA xuất thân từ thành phần trung lưu trở lên, nằm trong “middle third” và “top third” trong xã hội. Với độ tuổi trung bình 27-28, họ là các đối tượng đang trong quá trình tích luỹ tài sản làm giàu. Không khó để thấy rằng tầng lớp trung lưu bị ảnh hưởng nặng hơn nhóm “top third” trong suy thoái kinh tế bởi vì “gánh nặng nợ” của họ lớn hơn và giá trị tài sản không lớn để gánh vác tổn thất kinh tế, kéo theo ảnh hưởng đến điểm tín dụng và khả năng vay nợ mới. Học bổng và các chương trình tài trợ (đi học bằng tiền doanh nghiệp) cũng không phải dành cho tất cả mọi người. Chưa nói đến con đường đi vào các chương trình MBA hàng đầu nước Mỹ là một khung cửa hẹp. Do đó, các ứng viên MBA trung lưu có thể sẽ phải chọn ổn định nghề nghiệp trong ngắn hạn thay vì đầu tư cho tương lai. Và rồi khi kinh tế phục hồi trở lại, thì người ta lại nghĩ việc quay trở lại b-schools để theo đuổi MBA là chưa hẳn cần thiết.

7. Tất nhiên, sự sụt giảm số lượng ứng viên MBA đến từ tầng lớp trung lưu – nếu là sự thật – thì không phải là lí do duy nhất. Nhưng mối quan hệ giữa năng lực kinh tế và hành vi lựa chọn thì không thể phủ nhận.

(1) For MBAs, Breaking Even is a More Distant Dream – http://www.bloomberg.com/bschools/content/jan2011/bs2011015_236741.htm
(2) http://www.treasury.gov/

(3) 2014 Application Trends Survey Report – http://www.gmac.com/market-intelligence-and-research/market-research/gmac-surveys/application-trends-survey.aspx